1. Thông tin Luận văn thạc sĩ
- Tên Luận văn: “PHÂN TÍCH CÁC YẾ U TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾ N ÁP DỤ NG TIẾ N BỘ KHOA HỌ C CÔNG NGHỆ VÀO SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾ N NÔNG SẢN – THỦY SẢN TẠ I KIÊN GIANG”
- Tác giả: TRƯƠNG VĂN CUỘ I
- Số trang: 106
- Năm: 2017
- Nơi xuất bản: TP. Hồ Chí Minh (Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh)
- Chuyên ngành học: Quản lý kinh tế
- Từ khoá: Áp dụng khoa học công nghệ; đổi mới công nghệ; Kiên Giang; nâng cao trình độ; sản xuất công nghiệp.
2. Nội dung chính
Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến khả năng áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ (KHCN) vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) chế biến nông sản – thủy sản tại tỉnh Kiên Giang. Bối cảnh nghiên cứu được đặt trong thực trạng phát triển kinh tế của Kiên Giang, một tỉnh giàu tiềm năng về nông, lâm, thủy sản và khoáng sản. Ngành công nghiệp chế biến đóng vai trò mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy kinh tế tỉnh, với giá trị sản xuất lớn và các sản phẩm chủ lực như xi măng, gạo, thủy sản đông lạnh, nước mắm đã có uy tín trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, bất chấp những thành tựu nhất định trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại ở một số DN lớn (như công nghệ lò quay trong sản xuất xi măng, IQF trong chế biến thủy sản, máy tách màu trong chế biến gạo), mặt bằng công nghệ chung của tỉnh vẫn còn thấp. Đa số các cơ sở sản xuất, đặc biệt là các DN nhỏ và siêu nhỏ, vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, manh mún, thủ công hoặc bán thủ công, dẫn đến sản phẩm có giá trị gia tăng chưa cao, năng lực cạnh tranh còn yếu và chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật cần thiết cho thị trường trong và ngoài nước. Nguyên nhân chính của hạn chế này bao gồm khó khăn về nguồn vốn đầu tư, thiếu cơ chế hỗ trợ cụ thể và hiệu quả từ tỉnh, cũng như khả năng tiếp cận hạn chế các chính sách hỗ trợ từ Trung ương. Điều này đặt ra một yêu cầu cấp thiết về việc phân tích sâu sắc các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao trình độ công nghệ cho ngành công nghiệp chế biến của Kiên Giang.
Luận văn đã tiến hành khảo sát 126 doanh nghiệp chế biến nông sản – thủy sản trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, trong đó có 28 DN đã áp dụng KHCN và 98 DN chưa hoặc dự kiến áp dụng. Kết quả thống kê mô tả cho thấy phần lớn DN sử dụng công nghệ trung gian (76,36%), với tỷ lệ rất thấp sử dụng công nghệ cao (16,36%) và một số vẫn dùng công nghệ truyền thống (7,28%), đặc biệt là trong chế biến nông sản. Công nghệ chủ yếu có nguồn gốc trong nước cho nông sản và nhập khẩu cho thủy sản. Mức độ tự động hóa còn thấp, chỉ khoảng 23,08% sản xuất là tự động hóa hoàn toàn, còn lại chủ yếu là bán thủ công hoặc thủ công. Về nguồn nhân lực, dù số lượng lao động tăng nhưng chất lượng chưa đồng đều, với tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng trở lên chỉ chiếm 8,9%. Các DN gặp nhiều trở ngại trong việc ứng dụng KHCN, trong đó vốn là yếu tố quan trọng nhất (66,67%), tiếp theo là chất lượng nguồn nhân lực và nhận thức của chủ DN. Nhu cầu đổi mới công nghệ là rất lớn, tập trung vào áp dụng ISO, các tiêu chuẩn khác và máy móc thiết bị, tuy nhiên các chính sách hỗ trợ từ địa phương chưa thực sự hiệu quả, ít được DN tiếp cận và đánh giá là chưa phù hợp. Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) của các DN còn rất hạn chế, chỉ khoảng 10% có hoạt động này. Các DN áp dụng KHCN thường chú trọng vào việc nâng cấp máy móc thiết bị, sau đó là các tiêu chuẩn quản lý chất lượng và xuất khẩu, mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Để phân tích định lượng các yếu tố ảnh hưởng, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Probit, chia thành hai nhóm biến độc lập: nhóm thuộc tính của doanh nghiệp và nhóm nhận định của doanh nghiệp. Đối với nhóm thuộc tính, kết quả cho thấy hầu hết các biến như tuổi đời, quy mô DN, trình độ lao động phổ thông và đại học không có ý nghĩa thống kê đáng kể trong việc ảnh hưởng đến quyết định áp dụng KHCN. Chỉ có vốn lưu động của DN và trình độ lao động trung cấp đến đại học là có ý nghĩa thống kê, trong đó vốn lưu động tác động tích cực, còn tỷ lệ lao động trung cấp đến đại học lại tác động tiêu cực, ngụ ý rằng việc áp dụng KHCN có thể làm giảm nhu cầu đối với lực lượng lao động này. Mô hình này có hệ số R2 (Pseudo) đạt 27,9%, cho thấy các thuộc tính nội tại của DN chỉ giải thích được một phần nhỏ mức độ quyết định áp dụng KHCN. Điều này gợi ý rằng các yếu tố bên ngoài và nhận thức chủ quan của DN đóng vai trò quan trọng hơn.
Ngược lại, nhóm nhận định của doanh nghiệp về các yếu tố bên ngoài và lợi ích của việc áp dụng KHCN lại có ảnh hưởng rất lớn và có ý nghĩa thống kê cao. Các biến như áp lực cạnh tranh, mong muốn giảm chi phí sản xuất, nhu cầu nâng cao chất lượng sản phẩm, cũng như mức độ phù hợp và hiệu quả của các chính sách địa phương về đổi mới công nghệ, đào tạo và hỗ trợ thị trường, đều tác động tích cực và mạnh mẽ đến quyết định áp dụng KHCN. Hệ số R2 (Pseudo) của mô hình này đạt 60,7%, cho thấy các yếu tố này giải thích được hơn 60% mức độ quyết định đầu tư áp dụng KHCN của các DN. Cụ thể, nếu các chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực và mở rộng thị trường được cải thiện, việc áp dụng KHCN của DN sẽ tăng đáng kể. Điều này nhấn mạnh rằng nhận thức về lợi ích kinh tế, áp lực từ thị trường và sự hỗ trợ chính sách hiệu quả là động lực chính thúc đẩy các DN tại Kiên Giang đầu tư vào KHCN.
Từ những kết quả phân tích, nghiên cứu đưa ra một số kết luận và hàm ý chính sách quan trọng. Thứ nhất, để nâng cao trình độ công nghệ và khả năng cạnh tranh, các DN cần chủ động theo dõi và nắm bắt sự phát triển của KHCN, tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn vốn và phát triển đội ngũ nhân lực có kỹ năng phù hợp. Thứ hai, vai trò của chính quyền địa phương là cực kỳ quan trọng trong việc tạo môi trường thuận lợi. Cần tăng cường phổ biến thông tin về các cơ chế, chính sách hỗ trợ, đặc biệt là về tài chính (như hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh vốn vay) để giúp DN dễ dàng tiếp cận nguồn vốn đầu tư KHCN. Các chính sách cần được rà soát và điều chỉnh để phù hợp hơn với nhu cầu thực tiễn của DN, không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn ở hiệu quả triển khai và tiếp cận. Chính quyền cũng cần chú trọng hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp chế biến mũi nhọn của tỉnh, thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao, các mô hình sản xuất tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường và quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế. Cuối cùng, việc áp dụng KHCN có thể dẫn đến dịch chuyển lao động, do đó cần có chính sách hỗ trợ và đào tạo lại cho lực lượng lao động bị ảnh hưởng nhằm đảm bảo an sinh xã hội và phát triển bền vững.

