Khuyến mãi đặc biệt
  • Giảm 10% phí tải tài liệu khi like và share website
  • Tặng 1 bộ slide thuyết trình khi tải tài liệu
  • Giảm 5% dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của Luận Văn A-Z
  • Giảm 2% dịch vụ viết thuê luận án tiến sĩ của Luận Văn A-Z

Ảnh Hưởng Của Thận Trọng Kế Toán Có Điều Kiện Đến Giá Trị Thích Hợp Của Thông Tin Trên Báo Cáo Tài Chính – Bằng Chứng Thực Nghiệm Đối Với Các Công Ty Niêm Yết Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam

50.000 VNĐ

Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của thận trọng kế toán có điều kiện đến giá trị thích hợp của thông tin trên báo cáo tài chính đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2008-2016. Mục tiêu chính là xác định chiều tác động và mức độ thận trọng kế toán có điều kiện giữa hai giai đoạn 2008-2014 và 2015-2016, đặc biệt sau Thông tư 200/2014/TT-BTC. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, phân tích báo cáo tài chính đã kiểm toán và dữ liệu thị trường. Kết quả cung cấp hàm ý thực tiễn cho các nhà quản lý, công ty và nhà đầu tư, góp phần cải thiện chất lượng thông tin tài chính.

1. Thông tin Luận văn thạc sĩ

  • Tên Luận văn: Ảnh hưởng của thận trọng kế toán có điều kiện đến giá trị thích hợp của thông tin trên báo cáo tài chính – Bằng chứng thực nghiệm đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
  • Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Dung
  • Số trang: 109
  • Năm: 2017
  • Nơi xuất bản: Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên ngành học: Kế toán
  • Từ khoá: Thận trọng kế toán có điều kiện, giá trị thích hợp thông tin, báo cáo tài chính, công ty niêm yết, thị trường chứng khoán Việt Nam, Basu (1997), Easton & Harris (1991), Ohlson (1995).

2. Nội dung chính

Luận văn này tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của thận trọng kế toán có điều kiện đến giá trị thích hợp của thông tin trên báo cáo tài chính đối với các công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2008-2016. Đề tài xuất phát từ thực trạng nền kinh tế và thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ hệ thống pháp luật theo hướng điển luật và các quy định về thuế, dẫn đến thông tin tài chính thường được đánh giá là chưa thực sự thích hợp so với các thị trường hiệu quả trên thế giới. Nhiều nghiên cứu trước đây trên thế giới đã chỉ ra mối quan hệ phức tạp, thậm chí trái chiều giữa sự thận trọng kế toán và giá trị thích hợp của thông tin, trong khi tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào đo lường giá trị thích hợp của thông tin mà chưa đi sâu phân tích tác động của thận trọng kế toán. Khe hổng nghiên cứu này là động lực chính để tác giả thực hiện luận văn, với mục tiêu cụ thể là xác định chiều tác động của thận trọng kế toán có điều kiện đến giá trị thích hợp của thông tin và kiểm tra sự khác biệt về mức độ thận trọng kế toán giữa hai giai đoạn 2008-2014 và 2015-2016, đặc biệt sau khi Thông tư 200/2014/TT-BTC có hiệu lực. Các giả thuyết nghiên cứu được đề ra bao gồm: H1 – thận trọng kế toán có điều kiện hiện hữu trong dữ liệu nghiên cứu; H2 – thận trọng kế toán có điều kiện khiến lợi nhuận kế toán thể hiện nội dung thông tin ít hơn cho giá cổ phiếu (mối quan hệ nghịch chiều); và H3 – mức độ thận trọng kế toán có điều kiện giai đoạn 2008-2014 cao hơn giai đoạn 2015-2016.

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với dữ liệu bảng (panel data) gồm 97 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) trong 9 năm (2008-2016). Các khái niệm liên quan như giá trị thích hợp của thông tin kế toán (value relevance) được định nghĩa là khả năng các số liệu kế toán tóm tắt thông tin cơ bản của giá chứng khoán, đo lường bằng hệ số R-squared của các mô hình hồi quy. Luận văn áp dụng hai mô hình chính: mô hình giá của Ohlson (1995) và mô hình tỷ suất sinh lợi của Easton & Harris (1991). Về thận trọng kế toán, luận văn tiếp cận định nghĩa của nguyên tắc thận trọng theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS01) và quan điểm của các học giả thế giới, đặc biệt là khái niệm thận trọng kế toán có điều kiện (conditional conservatism) do Basu (1997) đề xuất – “thu nhập phản ánh tin xấu nhanh hơn tin tốt”. Mô hình của Basu (1997) được sử dụng để đo lường mức độ thận trọng kế toán có điều kiện thông qua hệ số β3. Lý thuyết nền tảng chính được sử dụng để giải thích sự hiện diện của thận trọng kế toán là lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory), theo đó, kế toán thận trọng giúp giảm chi phí ủy nhiệm và bảo vệ lợi ích của cổ đông cũng như chủ nợ trong điều kiện bất cân xứng thông tin. Quá trình phân tích định lượng dữ liệu bao gồm kiểm định các giả định của mô hình hồi quy tuyến tính (phương sai không đổi, phân phối chuẩn của phần dư, không đa cộng tuyến) trước khi chạy các mô hình hồi quy Pooled OLS để kiểm định các giả thuyết đã đề ra, đồng thời chia mẫu nghiên cứu thành ba nhóm theo mức độ thận trọng (thấp, trung bình, cao) để phân tích chi tiết.

Kết quả nghiên cứu đã mang lại những phát hiện quan trọng. Đầu tiên, giả thuyết H1 được chấp nhận: thận trọng kế toán có điều kiện hiện hữu trong dữ liệu nghiên cứu, thể hiện qua hệ số β3 dương và có ý nghĩa thống kê trong mô hình Basu (1997) cho giai đoạn 2008-2016. Điều này củng cố nhận định rằng hệ thống kế toán Việt Nam, mang đặc điểm của một quốc gia điển luật và chịu ảnh hưởng của các quy định thuế, có tính thận trọng rõ rệt. Thứ hai, giả thuyết H3 cũng được chấp nhận, cho thấy mức độ thận trọng kế toán có điều kiện giai đoạn 2008-2014 cao hơn giai đoạn 2015-2016. Phát hiện này rất có ý nghĩa, chứng tỏ rằng việc ban hành Thông tư 200/2014/TT-BTC, nhằm mục đích tách biệt kế toán và thuế và hướng tới phục vụ nhu cầu quản trị, đã thực sự góp phần làm giảm mức độ thận trọng trong thông tin tài chính. Tuy nhiên, giả thuyết H2 – rằng thận trọng kế toán có điều kiện làm giảm giá trị thích hợp của thông tin – đã bị bác bỏ. Thay vào đó, kết quả từ cả hai mô hình Easton & Harris (1991) và Ohlson (1995) đều cho thấy mối quan hệ cùng chiều: mức độ thận trọng kế toán có điều kiện càng cao thì giá trị thích hợp của thông tin càng tăng. Cụ thể, hệ số xác định điều chỉnh R2 của mô hình tăng dần khi chuyển từ nhóm công ty có mức độ thận trọng thấp sang trung bình và cao (ví dụ, với mô hình Ohlson: Con1 là 26.74%, Con2 là 31.10% và Con3 là 52.23%). Kết quả này trái ngược với nhiều nghiên cứu quốc tế nhưng lại tương đồng với một số công trình khác.

Từ những kết quả trên, luận văn đưa ra nhiều hàm ý chính sách quan trọng. Đối với cơ quan quản lý Nhà nước, Bộ Tài chính nên tham khảo cách hiểu mới về thận trọng kế toán của IASB (dự thảo ED/2015/3), theo đó thận trọng hỗ trợ tính trung lập, đảm bảo sự cân xứng trong xử lý kế toán khi các điều kiện không chắc chắn thay đổi, thay vì chỉ nhấn mạnh việc ghi nhận tin xấu. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện các chuẩn mực kế toán Việt Nam trên cơ sở cập nhật có chọn lọc IFRS để nâng cao chất lượng báo cáo tài chính, tăng cường tính minh bạch và khả năng so sánh, thúc đẩy sự liên thông với thị trường vốn thế giới. Đối với các công ty niêm yết, việc tạo ra sự cân xứng trong xử lý kế toán khi có các điều kiện không chắc chắn là cần thiết, không chỉ tránh thổi phồng tài sản/thu nhập mà còn tránh đánh giá thấp chúng, nhằm nâng cao tính hữu ích của thông tin. Cuối cùng, nhà đầu tư cần chủ động phân tích báo cáo tài chính để đưa ra các quyết định đầu tư hiệu quả, không quá phụ thuộc vào các yếu tố ngoài thông tin kế toán. Luận văn cũng thừa nhận một số hạn chế như thời gian nghiên cứu tương đối ngắn so với các nghiên cứu quốc tế, việc sử dụng mô hình Pooled OLS có thể chưa nắm bắt hết các phức tạp của dữ liệu bảng, và chỉ tập trung vào các công ty phi tài chính niêm yết cũng như chỉ xem xét thận trọng kế toán có điều kiện. Những hạn chế này mở ra hướng nghiên cứu trong tương lai, bao gồm việc áp dụng các kỹ thuật ước lượng dữ liệu bảng tiên tiến hơn, nghiên cứu riêng các công ty tài chính, hoặc so sánh ảnh hưởng của thận trọng kế toán không điều kiện.

Ảnh Hưởng Của Thận Trọng Kế Toán Có Điều Kiện Đến Giá Trị Thích Hợp Của Thông Tin Trên Báo Cáo Tài Chính – Bằng Chứng Thực Nghiệm Đối Với Các Công Ty Niêm Yết Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
Ảnh Hưởng Của Thận Trọng Kế Toán Có Điều Kiện Đến Giá Trị Thích Hợp Của Thông Tin Trên Báo Cáo Tài Chính – Bằng Chứng Thực Nghiệm Đối Với Các Công Ty Niêm Yết Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam