1. Thông tin Luận văn thạc sĩ
- Tên Luận văn: THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN, QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TỈNH CÀ MAU
- Tác giả: LÊ THƯỜNG VỤ
- Số trang: 64
- Năm: 2017
- Nơi xuất bản: TP. HỒ CHÍ MINH
- Chuyên ngành học: Luật kinh tế. Xem thêm: 200 đề tài luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế và tổng hợp 200 luận văn thạc sĩ Luật Kinh Tế.
- Từ khoá: Thẩm quyền giải quyết, tranh chấp đất đai, Tòa án nhân dân, thực tiễn xét xử, tỉnh Cà Mau, pháp luật đất đai, Bộ luật tố tụng dân sự.
Nếu bạn cần hỗ trợ viết luận văn thạc sĩ, bạn có thể tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ.
2. Nội dung chính
Luận văn “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân, qua thực tiễn xét xử tại tỉnh Cà Mau” của Lê Thường Vụ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai tại Việt Nam, với trọng tâm là tình hình và những vướng mắc phát sinh tại Tòa án nhân dân hai cấp của tỉnh Cà Mau. Đề tài xuất phát từ nhận định đất đai là tài nguyên quý giá, nhưng các tranh chấp liên quan đến nó ngày càng gia tăng về số lượng và mức độ phức tạp do sự thay đổi của nền kinh tế và các chính sách pháp luật. Mặc dù Tòa án được trao ngày càng nhiều thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp đất đai, thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc, đặc biệt là sự thiếu thống nhất, chồng chéo trong các văn bản pháp luật, cũng như những hạn chế trong công tác quản lý đất đai và năng lực của đội ngũ cán bộ. Mục tiêu của luận văn là phân tích các quy định pháp luật hiện hành, chỉ ra những vướng mắc cụ thể trong thực tiễn xét xử tại Cà Mau, từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp. Phạm vi nghiên cứu chủ yếu dựa trên Luật Đất đai năm 2013 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tập trung vào các tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, không đi sâu vào tố tụng hành chính hay kinh doanh thương mại. Các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng bao gồm phân tích luật viết, phân tích vụ việc, so sánh pháp luật và thống kê số liệu thực tế.
Trong Chương 1, tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về tranh chấp đất đai và thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo đó, tranh chấp đất đai được định nghĩa một cách rộng rãi là sự bất đồng, mâu thuẫn về quyền, nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai, bao gồm cả tranh chấp về quyền sử dụng đất và các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, có thể xảy ra giữa những người sử dụng đất với nhau, hoặc giữa người sử dụng đất với cơ quan quản lý nhà nước, hoặc giữa các cơ quan quản lý nhà nước. Luận văn phân loại tranh chấp thành hai nhóm chính: tranh chấp về quyền sử dụng đất (liên quan đến chủ thể có quyền sử dụng hợp pháp hoặc ranh giới) và tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất (như giao dịch, thừa kế, chia tài sản chung, bồi thường khi thu hồi đất, cản trở quyền sử dụng, mục đích sử dụng, đòi lại đất). Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh sự khác biệt giữa giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục hành chính và tố tụng Tòa án, cùng với các điều kiện và chủ thể có thẩm quyền cho mỗi hình thức. Thẩm quyền của Tòa án được mở rộng đáng kể trong Luật Đất đai 2013 so với Luật Đất đai 2003, bao gồm cả các trường hợp đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã qua giải quyết hành chính nhưng không đồng ý. Luận văn cũng trình bày các đặc điểm và nguyên tắc cơ bản của việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án, như tuân thủ quy định hình thức, xét xử hai cấp, công khai, và đảm bảo thi hành bản án, đồng thời nêu bật vai trò và ý nghĩa của Tòa án trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp và góp phần nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật.
Chương 2 của luận văn đi sâu vào thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân hai cấp của tỉnh Cà Mau từ năm 2014 đến 2016. Số liệu thống kê cho thấy sự giảm dần các đơn yêu cầu giải quyết tại Ủy ban nhân dân, nhưng số lượng vụ án tranh chấp đất đai mà Tòa án thụ lý lại tăng đáng kể qua các năm, cho thấy xu hướng người dân lựa chọn Tòa án để giải quyết. Tỷ lệ giải quyết án thấp (chỉ khoảng 46,7% đến 55% trong giai đoạn này) phản ánh tính phức tạp của các vụ việc và những vướng mắc trong quá trình xét xử. Các nguyên nhân chính dẫn đến tranh chấp đất đai ở Cà Mau được chỉ ra bao gồm: sự thay đổi chính sách đất đai qua các thời kỳ lịch sử dẫn đến sự không rõ ràng về nguồn gốc đất; giá trị kinh tế của quyền sử dụng đất ngày càng tăng cao, thúc đẩy mâu thuẫn lợi ích; kiến thức pháp luật đất đai hạn chế của người dân; công tác bồi thường giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập; và đặc biệt là những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý đất đai của chính quyền địa phương, như chậm cấp giấy chứng nhận, lấn chiếm đất đai không được xử lý kịp thời, và sai sót trong đo đạc, lập bản đồ địa chính.
Luận văn tiếp tục phân tích sâu hơn những vướng mắc cụ thể mà Tòa án nhân dân hai cấp của tỉnh Cà Mau gặp phải. Thứ nhất, trong việc xác định chủ thể có quyền sử dụng đất, đây là loại tranh chấp phổ biến và khó khăn nhất do lịch sử khai hoang, giao dịch không chính thức (giấy tay), và việc cấp giấy chứng nhận không chính xác, dẫn đến các vụ án kéo dài và nhiều lần xét xử lại, như vụ ông Phạm Văn T và ông Nguyễn Văn Đ. Thứ hai, các tranh chấp liên quan đến giao dịch về quyền sử dụng đất cũng phức tạp do các bên không tuân thủ quy định về hình thức và nội dung, ví dụ về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Hồng Tr và ông Dương Văn Th, nơi mà việc không xác định ranh giới rõ ràng ban đầu gây ra lấn chiếm. Thứ ba, tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất thường rất phức tạp về mặt cảm xúc và pháp lý, dễ dẫn đến kháng cáo, kháng nghị vì Thẩm phán đôi khi chưa đánh giá đúng chứng cứ, công sức gìn giữ di sản, hoặc bỏ sót người tham gia tố tụng, minh chứng bằng vụ án giữa gia đình Huỳnh Tuyết B và bà Lê Ngọc D. Thứ tư, tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất cũng gây “lúng túng” cho Tòa án trong việc xác định giá trị tăng thêm của tài sản, đặc biệt là các trường hợp có yếu tố nước ngoài hoặc sự đóng góp cải tạo đất chưa được tính toán hợp lý. Ngoài ra, việc xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng (như không cung cấp tài liệu, cản trở thẩm định tại chỗ) và hành vi thay đổi hiện trạng đất tranh chấp còn gặp khó khăn do thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể và sự phối hợp chưa tích cực từ các cơ quan hữu quan, làm chậm trễ quá trình giải quyết vụ án.
Từ những phân tích thực tiễn và lý luận, Chương 3 của luận văn đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai. Đầu tiên, đề xuất sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để bổ sung thẩm quyền xét xử phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao, đảm bảo nguyên tắc xét xử hai cấp. Thứ hai, kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao ban hành hướng dẫn thống nhất về đường lối giải quyết các loại tranh chấp đất đai, đặc biệt là về việc xác định chủ thể có quyền sử dụng đất (thông qua xác minh nguồn gốc, quá trình quản lý, đo đạc chính xác, xem xét chiếm hữu ngay tình), tranh chấp giao dịch (đánh giá hiệu lực hợp đồng, định giá tài sản), tranh chấp thừa kế (thời hiệu, hiệu lực di chúc, xác định hàng thừa kế, quyền lợi người quản lý di sản), và tranh chấp tài sản gắn liền với đất (định giá tài sản, công sức tôn tạo). Thứ ba, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng, bổ sung các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, và mức phạt hành chính đối với hành vi không cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc cản trở thẩm định tại chỗ, đồng thời phân định rõ ranh giới giữa xử lý hành chính và hình sự. Thứ tư, để hạn chế thay đổi hiện trạng đất tranh chấp, kiến nghị Tòa án thông báo thụ lý vụ án cho Ủy ban nhân dân cấp xã, huyện, tỉnh nơi có đất tranh chấp để ngăn chặn các giao dịch trái phép. Cuối cùng, luận văn nhấn mạnh việc tăng cường phối hợp giữa Tòa án với các cơ quan hữu quan khác (Viện kiểm sát, Ủy ban nhân dân) thông qua quy chế phối hợp rõ ràng, cùng với các giải pháp dài hạn nhằm hạn chế tranh chấp đất đai ngay từ gốc rễ, bao gồm tăng cường quản lý đất đai (rà soát quy hoạch, đo đạc chính xác), đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật, chú trọng công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, và thực hiện tốt công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, góp phần ổn định xã hội và phát triển kinh tế.

