1. Thông tin Luận văn thạc sĩ
- Tên Luận văn: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ dân tham gia chương trình cho vay hộ nghèo trên địa bàn huyện U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang
- Tác giả: Nguyễn Quốc Khởi
- Số trang: 98
- Năm: 2017
- Nơi xuất bản: TP. Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành học: Quản lý kinh tế
- Từ khoá: thu nhập, hộ nghèo, tín dụng vi mô, chương trình cho vay vốn.
2. Nội dung chính
Đầu tư cho công tác xóa đói giảm nghèo và an sinh xã hội là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia, trong đó tín dụng vi mô đóng vai trò quan trọng trong việc giúp hàng trăm triệu hộ nghèo tiếp cận vốn vay và cải thiện thu nhập. Tại Việt Nam, công tác giảm nghèo cũng là mục tiêu trọng tâm của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, ở các địa phương như huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang, một trong ba huyện nghèo nhất tỉnh với tỷ lệ hộ nghèo lên đến 20% vào cuối năm 2016, người dân vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn để đầu tư sản xuất, tái sản xuất, đặc biệt là các hộ thuộc diện nghèo. Thêm vào đó, các nghiên cứu và tổng kết về hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nghèo trên địa bàn huyện U Minh Thượng còn hạn chế, chưa có đánh giá khoa học toàn diện để phát hiện những mặt thuận lợi cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục. Luận văn này được thực hiện nhằm mục tiêu chính là đánh giá hiệu quả của các chương trình cho vay hộ nghèo tác động đến thu nhập của hộ dân tại U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Để đạt được mục tiêu chung đó, nghiên cứu đề ra các mục tiêu cụ thể: phân tích thực trạng hoạt động cho vay của chương trình cho vay hộ nghèo, phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ dân tham gia chương trình, và khuyến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các hộ nông dân nghèo trên tất cả các xã của huyện, sử dụng số liệu thứ cấp giai đoạn 2014-2016 và số liệu sơ cấp khảo sát trực tiếp đầu năm 2017.
Để xây dựng cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, luận văn đã tổng quan các khái niệm cơ bản như “thu nhập hộ nghèo” (theo chuẩn nghèo đa chiều 59/2015/QĐ-TTg), “tín dụng vi mô” (việc cung cấp các dịch vụ tài chính giá trị nhỏ cho các đối tượng khó tiếp cận ngân hàng thương mại), và “các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập” (từ các lý thuyết kinh tế như vốn nhân lực, đặc thù nghề nghiệp, năng lực tự nhiên, phân biệt đối xử, tín hiệu giáo dục, vốn xã hội). Các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước cũng được lược khảo để làm nền tảng, bao gồm các nghiên cứu về ảnh hưởng của tín dụng vi mô đến thu nhập (Hassan Zaman, Trương Đông Lộc & Đặng Thị Thảo Triều, Nguyễn Văn Toàn, Phan Thị Nữ, Lê Đức Niêm & Võ Xuân Hội) và các nghiên cứu về nâng cao thu nhập cho hộ nghèo (Đinh Phi Hổ & Hoàng Thị Thu Huyền, Mai Văn Nam). Từ tổng quan này, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu định lượng với biến phụ thuộc là thu nhập (hoặc logarit tự nhiên của thu nhập) và các biến độc lập bao gồm biến giả về tham gia chương trình cho vay hộ nghèo, tuổi, trình độ học vấn, giới tính, dân tộc của chủ hộ, diện tích đất sử dụng, tổng số thành viên trong hộ, tỷ lệ phụ thuộc và số tiền vay. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là định lượng, sử dụng khảo sát trực tiếp 252 mẫu trên 6/6 xã của huyện U Minh Thượng (172 hộ tham gia chương trình, 80 hộ không tham gia), kết hợp phân tích thống kê mô tả, kiểm định khác biệt trung bình và mô hình hồi quy đa biến. Mô hình hồi quy được kiểm định qua hai hướng: một cho toàn bộ các hộ có tiếp cận vốn vay (dù là chương trình hộ nghèo hay các chương trình khác) và một riêng cho các hộ tham gia chương trình cho vay hộ nghèo.
Kết quả phân tích từ dữ liệu khảo sát 252 hộ cho thấy những đặc điểm nổi bật về nhân khẩu học và kinh tế. Về tổng thể, thu nhập bình quân của hộ là 3.095 ngàn đồng/hộ, quy mô hộ trung bình là 2,86 người, diện tích đất canh tác bình quân 1.176 m², và số tiền vay trung bình là 16.357 ngàn đồng/hộ. Đáng chú ý, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thu nhập giữa nhóm hộ tham gia chương trình cho vay hộ nghèo và nhóm không tham gia (nhóm không tham gia có thu nhập cao hơn, có thể do họ có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn khác hoặc ít khó khăn hơn). Giới tính cũng tạo ra sự khác biệt, với hộ do nữ giới làm chủ thường có thu nhập cao hơn nam giới. Tương tự, hộ thuộc dân tộc Kinh có thu nhập bình quân cao hơn các dân tộc khác. Tuy nhiên, trình độ học vấn lại không có mối tương quan thuận chiều trực tiếp với thu nhập; hộ có trình độ tiểu học đạt thu nhập cao nhất, trong khi hộ không biết chữ có thu nhập thấp nhất và các cấp học cao hơn không đồng nghĩa với thu nhập cao hơn. Không có sự khác biệt đáng kể về thu nhập giữa các đơn vị hành chính. Mô hình hồi quy chung cho tất cả các hộ tiếp cận vốn vay xác định rằng tuổi chủ hộ, trình độ học vấn, giới tính, dân tộc, tỷ lệ phụ thuộc có tương quan nghịch với thu nhập, trong khi diện tích đất, số thành viên và số tiền vay có tương quan thuận. Đặc biệt, biến tham gia chương trình cho vay hộ nghèo cho thấy nhóm hộ này có thu nhập thấp hơn các hộ tiếp cận vốn vay từ các chương trình khác, điều này phản ánh thực tế rằng đối tượng của chương trình này thường là những hộ khó khăn nhất. Các kiểm định mô hình đều cho thấy tính phù hợp, ngoại trừ hiện tượng đa cộng tuyến giữa tuổi chủ hộ và số tiền vay. Mô hình riêng cho nhóm hộ tham gia chương trình cho vay hộ nghèo cũng cho kết quả tương tự, với các yếu tố như tuổi, trình độ học vấn, giới tính, dân tộc, diện tích, số thành viên, số tiền vay đều ảnh hưởng đến thu nhập, tuy nhiên tỷ lệ phụ thuộc không có ý nghĩa thống kê trong mô hình này, và sự khác biệt về giới tính và dân tộc cũng ít ý nghĩa thống kê hơn khi xét riêng nhóm này.
Từ những kết quả nghiên cứu chi tiết, luận văn đã đưa ra nhiều hàm ý chính sách và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả chương trình cho vay hộ nghèo. Thứ nhất, cần ưu tiên đầu tư và cho vay vốn cho những chủ hộ trẻ tuổi hơn (dưới 53 tuổi) để khai thác tốt hơn sức lao động và khả năng năng động. Thứ hai, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tiếp cận vốn vay do họ có xu hướng sử dụng vốn hiệu quả và tiết kiệm hơn. Thứ ba, cần có chính sách hỗ trợ toàn diện (kiến thức, kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng vốn) cho các hộ dân tộc thiểu số, bên cạnh các ưu đãi về tín dụng, để nâng cao khả năng tạo thu nhập của họ, vì đặc thù văn hóa và tôn giáo có thể ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn. Thứ tư, cần tiếp tục tăng cường vốn vay cho nhóm hộ có trình độ tiểu học, đồng thời nghiên cứu sâu hơn lý do nhóm trình độ cao hơn chưa đạt hiệu quả cao khi tiếp cận vốn. Thứ năm, chính quyền cần giải quyết vấn đề đất đai, hỗ trợ đất ở, đất sản xuất phù hợp để hộ nghèo có đủ điều kiện sản xuất, vì diện tích đất canh tác hiện tại quá nhỏ. Cuối cùng, Ngân hàng Chính sách Xã hội cần tăng quy mô và thời hạn vay, đa dạng hóa các món vay, và đặc biệt là áp dụng cơ chế trả nợ linh hoạt (trả góp) để giảm áp lực cho hộ nghèo, đảm bảo việc thu hồi vốn hiệu quả. Các cơ quan liên quan và chính quyền địa phương cũng cần tăng cường tuyên truyền, đào tạo nghề, chuyển giao khoa học kỹ thuật và bình xét cho vay đúng đối tượng, tập trung vào các mô hình khả thi cao. Mặc dù luận văn có những hạn chế nhất định về phạm vi nghiên cứu định lượng và chưa khai thác sâu một số yếu tố như vốn xã hội hay quy mô vốn vay tối ưu, đây là cơ sở quan trọng để định hướng các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội bền vững tại U Minh Thượng. Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất là bổ sung phương pháp định tính và đi sâu hơn vào các đặc điểm riêng của vùng để có cái nhìn toàn diện hơn.

