1. Thông tin Luận văn thạc sĩ
- Tên Luận văn: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều của hộ dân tại Huyện Tân Hiệp, Tỉnh Kiên Giang
- Tác giả: Ngô Văn Cay
- Số trang: 76
- Năm: 2017
- Nơi xuất bản: Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành học: Quản lý kinh tế
- Từ khoá: Nghèo đa chiều, Yếu tố ảnh hưởng, Hộ dân, Huyện Tân Hiệp, Kiên Giang
2. Nội dung chính
Tình trạng nghèo đói của hộ gia đình từ lâu đã được nhìn nhận không chỉ là sự thiếu thốn về thu nhập hay chi tiêu, mà còn bao hàm sự hạn chế trong việc tiếp cận và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản khác của con người. Phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index – MPI) ra đời nhằm khắc phục hạn chế này, mở rộng phạm vi đánh giá nghèo ra khỏi các tiêu chí tài chính đơn thuần. Theo đó, những hộ gia đình tuy không nghèo về thu nhập nhưng lại thiếu thốn trầm trọng về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch hay các điều kiện sống thiết yếu khác vẫn được xác định là nghèo. Tại Việt Nam, chuẩn nghèo đơn chiều truyền thống đã bộc lộ nhiều hạn chế khi đất nước chuyển mình sang nhóm quốc gia có thu nhập trung bình, khiến nhiều hộ dân cận nghèo hoặc tái nghèo dù đã thoát nghèo trên giấy tờ. Nhận thấy tầm quan trọng của việc hiểu rõ hơn về bức tranh nghèo thực tế, đặc biệt tại các địa phương còn nhiều khó khăn như Huyện Tân Hiệp, Tỉnh Kiên Giang, nghiên cứu này đã được thực hiện nhằm xác định và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều. Dựa trên các nghiên cứu đi trước của Ayalneh Bogale và cộng sự (2005), Minot và cộng sự (2006), Đinh Phi Hổ và cộng sự (2007), Olorusanya và Omotesho (2014), tác giả đã hình thành mô hình nghiên cứu với 9 yếu tố giả thuyết tác động đến nghèo đa chiều, bao gồm: giới tính của chủ hộ, trình độ văn hóa, quy mô hộ, số người phụ thuộc, quy mô diện tích đất sản xuất, vay từ định chế chính thức, tuổi của chủ hộ, thành phần dân tộc của chủ hộ và nghề nghiệp của chủ hộ.
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua khảo sát thực tế 270 hộ gia đình trên địa bàn Huyện Tân Hiệp, Kiên Giang. Mẫu khảo sát được lựa chọn theo phương pháp phân tầng thuận tiện, bao gồm 50% là hộ nghèo theo tiêu chí đơn chiều và 50% là hộ khác nghèo. Nghiên cứu đã sử dụng khung phân tích nghèo đa chiều dựa trên 3 chiều chính: giáo dục, y tế và mức sống, được đại diện bởi 10 chỉ số cụ thể, và một hộ được coi là nghèo đa chiều nếu có tổng điểm thiếu hụt từ 1/3 trở lên. Kết quả đo lường ban đầu đã chỉ ra một sự khác biệt đáng kể giữa hai phương pháp tiếp cận: trong khi chỉ có 135 hộ (50%) được xác định là nghèo theo phương pháp đơn chiều, thì con số này tăng vọt lên 198 hộ (73.3%) khi áp dụng phương pháp nghèo đa chiều. Đáng chú ý, có tới 63 trường hợp được coi là không nghèo theo chuẩn đơn chiều nhưng lại rơi vào diện nghèo theo chuẩn đa chiều. Phân tích sâu hơn về các thiếu hụt, nghiên cứu phát hiện có 124 hộ thiếu hụt về giáo dục, 38 hộ thiếu hụt về mức sống và 59 hộ thiếu hụt về y tế, cho thấy tầm quan trọng của việc nhìn nhận nghèo đói dưới nhiều khía cạnh khác nhau để có cái nhìn toàn diện và chính xác hơn về thực trạng đời sống người dân.
Sau khi xác định được các hộ nghèo đa chiều, tác giả tiếp tục sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic để kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo này. Mặc dù lý thuyết ban đầu đưa ra 9 yếu tố giả thuyết, kết quả phân tích hồi quy thực tế đã chỉ ra rằng chỉ có 6 yếu tố có tác động có ý nghĩa thống kê đến nghèo đa chiều của các hộ gia đình tại Tân Hiệp. Các yếu tố này, xếp theo mức độ tác động lần lượt là: giới tính của chủ hộ, số người phụ thuộc trong gia đình, diện tích đất sản xuất, vay từ định chế chính thức, trình độ văn hóa của chủ hộ và tuổi của chủ hộ. Cụ thể, nếu chủ hộ là nữ, khả năng nghèo của hộ gia đình tăng lên đáng kể (tăng 14.1% xác suất nghèo khi xác suất ban đầu là 10%). Tương tự, mỗi người phụ thuộc tăng thêm sẽ làm tăng 9.1% xác suất nghèo. Ngược lại, việc tăng diện tích đất sản xuất (giảm 5.5% xác suất nghèo) và việc tiếp cận các khoản vay từ định chế chính thức (giảm 4.6% xác suất nghèo) có tác dụng giảm thiểu nguy cơ nghèo. Trình độ văn hóa cao hơn của chủ hộ (giảm 1.4% xác suất nghèo) và tuổi của chủ hộ (giảm 0.4% xác suất nghèo nếu tăng tuổi) cũng góp phần tích cực vào việc thoát nghèo. Các yếu tố còn lại như quy mô hộ, thành phần dân tộc và nghề nghiệp của chủ hộ lại không cho thấy tác động rõ rệt trong nghiên cứu này.
Từ những kết quả trên, nghiên cứu đưa ra nhiều hàm ý chính sách quan trọng nhằm giảm nghèo đa chiều một cách bền vững tại Huyện Tân Hiệp. Đối với chiều y tế, cần tăng cường các chương trình hỗ trợ dinh dưỡng cho trẻ em và tập huấn kiến thức chăm sóc sức khỏe cho các bà mẹ, đồng thời phối hợp với các bệnh viện lớn tổ chức khám bệnh từ thiện định kỳ cho người dân. Về chiều giáo dục, chính quyền địa phương cần tiếp tục vận động và hỗ trợ các hộ gia đình đảm bảo con em được hoàn thành chương trình tiểu học, cũng như tạo điều kiện cho trẻ em trong độ tuổi đến trường được đi học. Đối với chiều mức sống, cần có chính sách hỗ trợ người dân tiếp cận điện năng an toàn, xây dựng nhà vệ sinh hợp quy chuẩn thông qua các chương trình vay vốn ưu đãi hoặc hỗ trợ chi phí, và mở rộng mạng lưới cung cấp nước sạch đến các vùng nông thôn, đồng thời có chính sách hỗ trợ nhà ở cho các hộ khó khăn. Ngoài ra, dựa trên các yếu tố tác động đã được xác định, chính quyền cần đẩy mạnh các chính sách kế hoạch hóa gia đình, hỗ trợ người dân tiếp cận đất sản xuất nông nghiệp, tăng cường khả năng vay vốn từ các định chế tài chính chính thức với lãi suất ưu đãi, và nâng cao trình độ văn hóa cho chủ hộ thông qua các chương trình giáo dục phổ cập, đào tạo nghề phù hợp, đặc biệt ưu tiên cho nhóm dân tộc thiểu số và phụ nữ làm chủ hộ. Nghiên cứu cũng thẳng thắn thừa nhận một số hạn chế như quy mô mẫu và phương pháp lấy mẫu thuận tiện có thể ảnh hưởng đến tính tổng quát của kết quả, đồng thời cho rằng vẫn còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến nghèo đa chiều mà nghiên cứu chưa thể tiếp cận.

