Khuyến mãi đặc biệt
  • Giảm 10% phí tải tài liệu khi like và share website
  • Tặng 1 bộ slide thuyết trình khi tải tài liệu
  • Giảm 5% dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của Luận Văn A-Z
  • Giảm 2% dịch vụ viết thuê luận án tiến sĩ của Luận Văn A-Z

Những Trục Trặc Trong Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Công Chứng Hiện Nay: Trường Hợp Tỉnh Quảng Nam

50.000 VNĐ

Luận văn đánh giá công tác quản lý nhà nước về công chứng tại Việt Nam, đặc biệt là tỉnh Quảng Nam, dựa trên Luật Công chứng 2014 và chủ trương xã hội hóa. Sử dụng bộ tiêu chí OECD và phỏng vấn chuyên gia, nghiên cứu chỉ ra nhiều vấn đề trong chính sách và thực thi, như quy định chưa sát thực tế, giám sát lỏng lẻo, chế tài chưa đủ mạnh và sự thiếu đồng bộ trong hướng dẫn. Tác giả khuyến nghị cần có quy định chặt chẽ hơn, thực thi nghiêm túc, linh hoạt theo địa phương, khuyến khích cạnh tranh và học hỏi kinh nghiệm quốc tế.

1. Thông tin Luận văn thạc sĩ

  • Tên Luận văn: Những Trục Trặc Trong Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Công Chứng Hiện Nay: Trường Hợp Tỉnh Quảng Nam
  • Tác giả: Trần Trung Kiên
  • Số trang: 56
  • Năm: 2017
  • Nơi xuất bản: TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên ngành học: Chính sách công
  • Từ khoá: Quản lý nhà nước, công chứng, chính sách công, xã hội hóa, trục trặc, Quảng Nam, Luật Công chứng 2014, khuyến nghị.

2. Nội dung chính

Luận văn của Trần Trung Kiên tập trung vào phân tích các vấn đề trong công tác quản lý nhà nước về công chứng tại Việt Nam hiện nay, đặc biệt khảo sát tại tỉnh Quảng Nam, trên cơ sở chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng theo Nghị quyết số 49-NQ/TW và Kết luận số 92-KL/TW của Bộ Chính trị. Bối cảnh chính sách này thúc đẩy việc chuyển giao hoạt động công chứng từ Nhà nước sang khu vực tư nhân, với Nhà nước đóng vai trò quản lý, điều tiết để đảm bảo hiệu quả. Tác giả sử dụng khung phân tích chính sách của OECD gồm 8 tiêu chí để đánh giá các quy định pháp luật và thực trạng quản lý nhà nước, cùng với các cuộc phỏng vấn chuyên gia, công chứng viên và cán bộ tư pháp. Về mặt lý thuyết, luận văn khẳng định sự cần thiết của can thiệp nhà nước vào hoạt động công chứng để khắc phục thất bại thị trường do bất cân xứng thông tin và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, như nhận định của Fukuyama. Tuy nhiên, việc Nhà nước trực tiếp cung cấp dịch vụ công chứng không phải lúc nào cũng tối ưu, mà có thể thông qua ủy quyền cho tư nhân, phù hợp với xu hướng xây dựng một nhà nước “phạm vi nhỏ và sức mạnh lớn”. Hiện nay, Việt Nam áp dụng mô hình quản lý hỗn hợp, vừa duy trì phòng công chứng nhà nước, vừa khuyến khích văn phòng công chứng tư nhân, đồng thời phân cấp quản lý từ trung ương đến địa phương thông qua Bộ Tư pháp, UBND cấp tỉnh và Sở Tư pháp. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng hoạt động công chứng, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội.

Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về công chứng vẫn đối mặt với nhiều trục trặc. Một số quy định pháp luật chưa thực sự phù hợp hoặc chưa được thực thi nghiêm túc. Ví dụ, việc quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020 (theo Quyết định 2104/QĐ-TTg) đặt ra các chỉ tiêu không thực tế, đặc biệt đối với các huyện miền núi có mật độ dân số thấp và nhu cầu công chứng hạn chế như ở Quảng Nam. Việc chuyển giao thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch bất động sản từ UBND cấp xã, huyện sang tổ chức hành nghề công chứng cũng diễn ra không đồng bộ, gây lúng túng cho địa phương do thiếu hướng dẫn thống nhất. Ngoài ra, việc quy định độ tuổi tối đa cho công chứng viên chưa chặt chẽ, và đặc biệt là sự chậm trễ trong xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng, dù được quy định trong Luật Công chứng 2014, cho thấy việc giám sát thực thi còn lỏng lẻo. Về khía cạnh kinh tế, mặc dù việc xã hội hóa công chứng đã giúp mở rộng dịch vụ và giảm gánh nặng cho nhà nước, tuy nhiên, các phòng công chứng nhà nước vẫn đóng góp vào ngân sách nhiều hơn đáng kể so với các văn phòng công chứng tư nhân do cơ chế tài chính khác biệt. Điều này cần được xem xét để đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong đóng góp ngân sách.

Một vấn đề nghiêm trọng khác là sự chưa hiệu quả của các biện pháp giảm thiểu chi phí và tác động lệch lạc tới thị trường. Mặc dù việc chuyển đổi văn phòng công chứng sang mô hình công ty hợp danh (công chứng viên chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản) và quy định bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp nhằm nâng cao trách nhiệm và bảo vệ người dân, nhưng thực tế, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp hiện nay còn mang tính hình thức, thường chỉ chi trả cho các sai phạm không cố ý, chưa thực sự bảo vệ đầy đủ quyền lợi của người yêu cầu công chứng. Hoạt động thanh tra, kiểm tra của Sở Tư pháp thường xuyên phát hiện các sai phạm nhỏ nhưng chế tài xử lý còn quá nhẹ, chủ yếu dừng lại ở nhắc nhở, thiếu tính răn đe. Điều này tạo kẽ hở cho các sai phạm tiềm ẩn, làm giảm niềm tin của công chúng vào hoạt động công chứng và có thể dẫn đến các “ngoại tác” tiêu cực lớn cho xã hội. Bên cạnh đó, các quy định về quy hoạch số lượng tổ chức hành nghề, địa điểm công chứng (bắt buộc tại trụ sở trừ trường hợp đặc biệt) và mức phí công chứng cố định, dù có mục đích quản lý, lại đi ngược lại nguyên tắc khuyến khích cạnh tranh và sử dụng cơ chế thị trường để nâng cao chất lượng dịch vụ và tối ưu hóa lợi ích xã hội.

Từ những phân tích trên, luận văn đề xuất một số kiến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công chứng. Trước hết, cần tăng cường giám sát việc thực thi các quy định hiện hành, đặc biệt là việc xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng và chuyển đổi mô hình văn phòng công chứng theo đúng lộ trình. Quốc hội và Chính phủ cần điều chỉnh, bổ sung các quy định về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp để đảm bảo bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người dân, kể cả đối với lỗi cố ý hay vô ý của công chứng viên. Cần điều chỉnh thẩm quyền chứng thực tại UBND cấp xã, giao cho cán bộ Tư pháp – Hộ tịch để nâng cao hiệu quả và tính khả thi. Đồng thời, cần tăng cường mức xử phạt và chế tài xử lý nghiêm khắc hơn đối với các hành vi vi phạm của công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng. Luận văn cũng kiến nghị thí điểm mở rộng quy hoạch theo hướng tăng số lượng tổ chức hành nghề công chứng, cho phép công chứng ngoài trụ sở đối với các văn bản không quá phức tạp, và xem xét lại quy định về phí để khuyến khích cạnh tranh lành mạnh. Cuối cùng, Chính phủ và Bộ Tư pháp cần có cơ chế khuyến khích để Hội Công chứng viên phát huy vai trò tự quản, giám sát hội viên và trở thành cầu nối hiệu quả giữa Nhà nước và các công chứng viên, góp phần xây dựng một hệ thống công chứng minh bạch, hiệu quả và đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

Những Trục Trặc Trong Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Công Chứng Hiện Nay: Trường Hợp Tỉnh Quảng Nam
Những Trục Trặc Trong Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Công Chứng Hiện Nay: Trường Hợp Tỉnh Quảng Nam