1. Thông tin Luận văn thạc sĩ
- Tên Luận văn: LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI DÂN KHI THAM GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Tác giả: HỒ HỮU QUYẾT
- Số trang: 97
- Năm: 2017
- Nơi xuất bản: Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành học: Quản lý kinh tế
- Từ khoá: Nông thôn mới (NTM), Lợi ích người dân, Tham gia xây dựng NTM, Huyện Hòn Đất, Kiên Giang.
2. Nội dung chính
Luận văn “Lợi ích của người dân khi tham gia xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang” của Hồ Hữu Quyết được thực hiện nhằm phân tích, đánh giá thực trạng chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới (NTM) và tác động của nó đến cuộc sống người dân trên địa bàn huyện Hòn Đất. Từ đó, đề tài đề xuất các giải pháp phù hợp để xây dựng thành công xã NTM, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Nông thôn mới được Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm rút ngắn khoảng cách thu nhập và hưởng thụ giữa thành thị và nông thôn. Huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, với diện tích tự nhiên rộng lớn, dân số chủ yếu ở khu vực nông thôn và tỷ trọng kinh tế nông nghiệp cao Đồng bằng sông Cửu Long, được chọn làm địa bàn nghiên cứu điển hình. Đề tài tiếp cận các khái niệm cơ bản về nông thôn, nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới, nhấn mạnh vai trò chủ thể của người dân trong tiến trình “dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra giám sát, dân quản lý và dân hưởng thụ”, đồng thời phân tích vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức đoàn thể. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng, sử dụng thống kê mô tả, khảo sát hộ nông dân tại ba xã đại diện (Thổ Sơn, Mỹ Lâm, Mỹ Phước) và phỏng vấn lãnh đạo các phòng, ban liên quan của huyện, được hỗ trợ phân tích bằng phần mềm Excel và Word.
Trước khi triển khai chương trình NTM, huyện Hòn Đất đối mặt với nhiều thách thức do điểm xuất phát thấp. Năm 2011, hầu hết các xã chỉ đạt mức thấp về tiêu chí NTM, ví dụ xã Mỹ Hiệp Sơn và Thổ Sơn chỉ đạt 5/19 tiêu chí, trong khi xã Sơn Kiên đạt cao nhất với 11/19 tiêu chí. Hạ tầng kinh tế – xã hội còn thiếu đồng bộ, đường giao thông nông thôn chỉ có 24,47% được bê tông hóa, công tác quy hoạch còn hạn chế với chỉ 33,64% người dân đánh giá tốt. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao ở mức 6,07% toàn huyện, và các hợp tác xã, tổ hợp tác hoạt động kém hiệu quả, ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập. Công tác tuyên truyền về NTM còn yếu, dẫn đến nhận thức hạn chế và tâm lý trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước của một bộ phận người dân. Mặc dù vậy, huyện đã chủ động triển khai công tác tuyên truyền sâu rộng thông qua các buổi sinh hoạt, đài truyền thanh, và thành lập Ban Chỉ đạo NTM từ huyện đến xã, cùng với việc tổ chức các lớp tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ. Đến hết năm 2012, 100% các xã đã hoàn thành và phê duyệt Đề án, quy hoạch NTM, dù quá trình này còn chậm và có sự chênh lệch giữa các xã điểm và xã còn lại. Những thách thức này đòi hỏi sự nỗ lực lớn để người dân thực sự hiểu và tham gia tích cực vào chương trình.
Qua 7 năm triển khai xây dựng NTM (2011-2017), huyện Hòn Đất đã đạt được nhiều kết quả đáng kể, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch đã được cải thiện đáng kể, với 100% xã hoàn thành quy hoạch tổng thể và chi tiết, và tỷ lệ người dân đánh giá tốt công tác quy hoạch tăng từ 33,64% lên 61,82%. Hạ tầng kinh tế – xã hội có những chuyển biến rõ rệt: tỷ lệ đường giao thông nông thôn được bê tông hóa tăng từ 24,47% lên 59,3%, góp phần thuận tiện hóa việc đi lại và giao thương, với sự tham gia đóng góp tích cực của người dân; hệ thống thủy lợi được đầu tư nạo vét, đào mới, đảm bảo tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp, được 70% người dân đánh giá tốt; hệ thống điện lưới quốc gia phủ sóng rộng rãi, đảm bảo an toàn, ổn định cho 98,7% hộ dân. Về giáo dục, số trường đạt chuẩn quốc gia tăng từ 13 lên 22, và 12/12 xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 28,5 triệu đồng/năm lên 47,2 triệu đồng/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 6,07% (chuẩn cũ) xuống 5,91% (chuẩn mới). Các hoạt động hỗ trợ sản xuất, giảm nghèo nhận được đánh giá tốt từ 70,91% người dân. Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu được cải thiện, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế tăng từ 42,83% lên 81,72%. Môi trường sống và an toàn vệ sinh thực phẩm cũng có những cải thiện tích cực với 52,73% người dân đánh giá tốt, và 93,64% người dân tích cực tham gia bảo vệ môi trường. Hệ thống chính trị cơ sở được củng cố, năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ được nâng cao, góp phần ổn định an ninh trật tự xã hội.
Mặc dù đạt được những thành tựu quan trọng, quá trình xây dựng NTM ở huyện Hòn Đất vẫn còn đối mặt với nhiều hạn chế và khó khăn. Đến năm 2017, chỉ có 3/12 xã đạt 19/19 tiêu chí NTM, cho thấy tiến độ chưa đạt mục tiêu đề ra. Việc huy động nguồn vốn còn nhiều khó khăn, chủ yếu phụ thuộc vào vốn lồng ghép từ các chương trình mục tiêu quốc gia, với sự đóng góp của người dân, đặc biệt ở vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc, còn rất hạn chế do tâm lý trông chờ ỷ lại. Công tác tuyên truyền vận động còn thiếu chiều sâu, dẫn đến nhận thức chưa đầy đủ về mục tiêu và tầm quan trọng của NTM. Các đề án quy hoạch xã NTM vẫn nặng về phát triển hạ tầng, chưa chú trọng đúng mức đến quy hoạch sử dụng đất, phát triển sản xuất, thu nhập, và bảo vệ môi trường. Chất lượng thực hiện một số tiêu chí chưa đồng bộ, còn tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu sự tập trung vào các tiêu chí then chốt. Sự tham gia của người dân vào kinh tế tập thể còn thấp do thiếu lợi ích rõ ràng và tâm lý tiểu nông. Vấn đề ô nhiễm môi trường, hàng giả, thủ tục hành chính rườm rà và nhũng nhiễu cán bộ vẫn còn diễn ra ở một số nơi. Để thúc đẩy hơn nữa quá trình xây dựng NTM, luận văn đề xuất các giải pháp như tăng cường công tác tuyên truyền vận động để nâng cao nhận thức, hoàn thiện cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là trong quy hoạch và huy động nguồn lực. Đồng thời, cần tập trung đào tạo nghề cho lao động nông thôn, phát triển sản xuất gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ để nâng cao thu nhập. Cuối cùng là giữ vững quốc phòng – an ninh, tăng cường kiểm tra, giám sát, và nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của hệ thống chính trị cơ sở để đảm bảo hiệu quả bền vững của chương trình.

