1. Thông tin Luận văn thạc sĩ
- Tên Luận văn: QUẢN LÝ KINH PHÍ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI: TRƯỜNG HỢP TỈNH KIÊN GIANG
- Tác giả: TÔ THỊ HỒNG THỦY
- Số trang: 90
- Năm: 2017
- Nơi xuất bản: TP. Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành học: Quản lý kinh tế
- Từ khoá: Quản lý kinh phí ngân sách nhà nước, hoạt động đối ngoại, tỉnh Kiên Giang, ngân sách theo kết quả đầu ra, hiệu quả chi tiêu công.
2. Nội dung chính
Luận văn “Quản lý kinh phí Ngân sách nhà nước cho hoạt động đối ngoại: Trường hợp tỉnh Kiên Giang” của tác giả Tô Thị Hồng Thủy tập trung nghiên cứu một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và nhiều biến động. Đề tài xuất phát từ thực tiễn hoạt động đối ngoại đa dạng của tỉnh Kiên Giang, một địa phương có vị trí địa lý chiến lược, nhưng việc quản lý kinh phí ngân sách nhà nước (NSNN) cho lĩnh vực này còn bộc lộ nhiều bất cập, thiếu hiệu quả và tiềm ẩn lãng phí. Mục tiêu chính của luận văn là đánh giá thực trạng công tác quản lý kinh phí NSNN cho hoạt động đối ngoại tại Kiên Giang trong giai đoạn 2011-2015, tìm hiểu nguyên nhân của những ưu nhược điểm, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này trong thời gian tới. Để đạt được mục tiêu đó, luận văn đã xây dựng một cơ sở lý luận vững chắc, phân tích các khái niệm liên quan như Ngân sách nhà nước, quản lý Ngân sách nhà nước và hoạt động đối ngoại. Đặc biệt, luận văn đã đi sâu vào các lý thuyết về quản lý ngân sách, bao gồm quản lý theo hạn mục, theo chương trình, theo thực hiện, và nổi bật nhất là quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra (KQĐR), được chọn làm khung phân tích chủ đạo nhờ những ưu điểm vượt trội trong việc gắn kết chi tiêu với hiệu quả hoạt động. Khung pháp lý của Việt Nam về quản lý kinh phí NSNN nói chung và cho hoạt động đối ngoại nói riêng cũng được tổng hợp và trình bày để làm nền tảng cho việc đánh giá thực trạng tại địa phương.
Luận văn đã dành phần lớn dung lượng để làm rõ khung phân tích quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra, bao gồm các đặc trưng cơ bản như lập ngân sách trung hạn, hướng tới nhu cầu khách hàng, hợp nhất chi thường xuyên và chi đầu tư, cam kết chặt chẽ và phân bổ dựa trên ưu tiên chiến lược. Phương pháp luận xác định và đo lường đầu ra được trình bày chi tiết thông qua các tiêu chí về số lượng, chất lượng, thời gian và chi phí, giúp định lượng hóa hiệu quả chi tiêu công. Đồng thời, luận văn cũng nhận diện những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi NSNN cho hoạt động đối ngoại, bao gồm cơ chế quản lý hiện hành còn phân tán và quy định lỗi thời, năng lực tổ chức bộ máy và trình độ cán bộ quản lý còn hạn chế, và nguồn thu ngân sách địa phương ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chi tiêu. Khi áp dụng vào thực trạng tại Kiên Giang, luận văn đã khái quát tình hình phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh giai đoạn 2011-2015, nhấn mạnh những thuận lợi và khó khăn đặc thù. Nhận định chung về công tác quản lý kinh phí NSNN cho hoạt động đối ngoại tại Kiên Giang cho thấy một thực trạng phổ biến là việc quản lý vẫn chủ yếu tập trung vào các yếu tố đầu vào và tuân thủ khoản mục chi, ít quan tâm đến việc đo lường và đánh giá kết quả đầu ra, dẫn đến thiếu liên kết chiến lược và tính bị động trong điều hành ngân sách. Quy trình lập, duyệt, chấp hành và quyết toán dự toán còn cứng nhắc, chưa linh hoạt, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động đối ngoại của tỉnh.
Phân tích sâu hơn về thực trạng quản lý kinh phí NSNN cho hoạt động đối ngoại tại Kiên Giang giai đoạn 2011-2015, luận văn đã đi vào từng khía cạnh cụ thể. Về công tác tổ chức quản lý đoàn ra, đoàn vào, mặc dù số lượng đoàn có xu hướng giảm hoặc tăng trong các năm, nhưng các báo cáo chỉ dừng lại ở số liệu thống kê chung chung về số lượng và mục đích, thiếu vắng các chỉ số định lượng về kết quả đạt được, khiến việc đánh giá hiệu quả chi phí cho các hoạt động này trở nên khó khăn. Tương tự, các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế, ngoại giao văn hóa, và công tác người Việt Nam ở nước ngoài tuy có những kết quả nhất định (như thu hút FDI, kiều hối) nhưng chưa được đưa vào mục tiêu lập ngân sách ngay từ đầu và thiếu cơ chế đánh giá hiệu quả chi tiêu tương ứng. Đặc biệt, công tác lãnh sự, nhất là các vụ việc liên quan đến ngư dân vi phạm lãnh hải, đã gây tiêu tốn lượng ngân sách đáng kể ngoài dự kiến, nhưng những khoản chi này thường không mang lại lợi ích trực tiếp cho tỉnh và chưa có giải pháp căn cơ để khắc phục. Công tác phân giới cắm mốc, dù quan trọng về mặt chính trị, lại được quản lý kinh phí riêng biệt và không được công bố thông tin chi tiết. Nhìn chung, các ưu điểm của công tác quản lý là đã bám sát chủ trương của Đảng và Nhà nước, góp phần thúc đẩy hội nhập và hoàn thành nhiệm vụ chính trị. Tuy nhiên, hạn chế nổi trội là việc duy trì quá lâu cách lập dự toán ngân sách theo khoản mục, không gắn chi phí với kết quả đầu ra, gây lãng phí tiềm ẩn, bị động trong xử lý tình huống phát sinh, và thiếu sự chủ động, sáng tạo trong các hoạt động xúc tiến kinh tế đối ngoại. Các nguyên nhân chính được chỉ ra bao gồm tính chính trị nặng nề của hoạt động đối ngoại, quy trình lập dự toán lặp lại và chỉ chú trọng tiết kiệm cơ học, thiếu nhân sự và đào tạo chuyên sâu về quản lý theo hiệu quả, cùng với các quy định pháp luật lỗi thời và sự thiếu quan tâm cải thiện do quy mô kinh phí hoạt động đối ngoại tương đối nhỏ so với tổng ngân sách của tỉnh.
Từ những phân tích trên, luận văn đã đưa ra các khuyến nghị chính sách cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản lý kinh phí NSNN cho hoạt động đối ngoại tại Kiên Giang. Đối với Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang, luận văn đề xuất cần có sự đổi mới căn bản trong quy trình lập, phân bổ, chấp hành và quyết toán ngân sách, chuyển dịch từ phương pháp truyền thống dựa trên đầu vào sang phương pháp quản lý theo kết quả đầu ra. Điều này đòi hỏi HĐND cần căn cứ vào thông tin đầu ra và đánh giá tính hiệu quả, hiệu lực của các hoạt động đối ngoại để phân bổ ngân sách phù hợp, đồng thời trao quyền tự chủ cao hơn cho người đứng đầu cơ quan quản lý chi tiêu ngân sách. Đối với Sở Ngoại vụ, cần thay đổi tư duy quản lý, hướng đến hiệu quả của từng khoản mục chi tiêu, ưu tiên nguồn lực cho các hoạt động phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội cụ thể của tỉnh tại từng thời kỳ. Luận văn cũng kiến nghị tách biệt các hoạt động mang tính chính trị khỏi các hoạt động cung cấp dịch vụ hành chính công để có thể đo lường và đánh giá hiệu quả chi tiêu một cách chính xác hơn. Để thực hiện được điều này, việc đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ về kỹ năng đo lường, đánh giá hiệu quả hoạt động chi tiêu theo kết quả đầu ra là vô cùng cần thiết. Báo cáo quyết toán ngân sách hàng năm cũng cần được điều chỉnh để phản ánh rõ ràng mối liên hệ giữa các khoản chi và kết quả đạt được, giúp cải thiện công tác quản lý và nâng cao trách nhiệm giải trình. Mặc dù gặp phải một số hạn chế do khó khăn trong việc tiếp cận các thông tin nhạy cảm và thiếu dữ liệu định lượng, luận văn đã cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng và đưa ra các giải pháp thiết thực, mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về việc xây dựng quy trình quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra chuyên biệt cho hoạt động đối ngoại của tỉnh.

