1. Thông tin Luận văn thạc sĩ
- Tên Luận văn: PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH VẬN TẢI ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
- Tác giả: NGUYỄN THANH TUẤN
- Số trang: 102
- Năm: 2017
- Nơi xuất bản: TP. HỒ CHÍ MINH
- Chuyên ngành học: Luật kinh tế
- Từ khoá: Pháp luật; Kinh doanh vận tải; Đường thủy nội địa; Việt Nam; Luật kinh tế; Hoàn thiện pháp luật; Thực trạng
2. Nội dung chính
Việt Nam, với lợi thế tự nhiên là đường bờ biển dài và hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, đã tạo nên tiềm năng to lớn cho việc phát triển giao thông vận tải đường thủy nội địa (ĐTNĐ). Đây không chỉ là phương thức vận tải then chốt phục vụ giao thương, kinh doanh và thúc đẩy phát triển kinh tế, mà còn góp phần giảm tải áp lực cho các loại hình vận tải khác, đặc biệt là đường bộ. Bài luận văn này tập trung phân tích sâu sắc các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về kinh doanh vận tải ĐTNĐ, chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn và từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý trong lĩnh vực này. Mặc dù Luật Giao thông Đường thủy nội địa 2004 cùng các sửa đổi bổ sung năm 2014 và hàng loạt văn bản dưới luật đã được ban hành, tạo cơ sở pháp lý quan trọng, hệ thống này vẫn còn phân tán và thiếu đồng bộ, dẫn đến câu hỏi nghiên cứu chính của luận văn: Liệu giao thông vận tải ĐTNĐ Việt Nam có đang phát triển dưới mức tiềm năng thực sự? Vận tải ĐTNĐ, được định nghĩa là hoạt động vận chuyển người, động vật và hàng hóa bằng các phương tiện thủy trên các tuyến đường thủy nội địa, mang nhiều đặc điểm ưu việt như khả năng vận chuyển khối lượng hàng hóa lớn, cồng kềnh với chi phí cạnh tranh và ít gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, nó cũng có những hạn chế về tốc độ giao hàng và khó khăn trong khắc phục hậu quả tai nạn. Vai trò của vận tải ĐTNĐ được nhấn mạnh qua khả năng chuyên chở hàng siêu trường, siêu trọng, chi phí thấp, đảm bảo lưu thông hàng hóa tại các vùng sông nước, thúc đẩy du lịch, đa dạng hóa phương thức vận tải giảm ùn tắc giao thông đường bộ, và thích nghi với điều kiện ngập lụt, biến đổi khí hậu. Pháp luật về kinh doanh vận tải ĐTNĐ được đặc trưng bởi là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, chịu sự giám sát chặt chẽ của nhà nước, các quy định thường tản mác trong nhiều văn bản, không giới hạn về hình thức chủ thể kinh doanh và đang trong lộ trình quy hoạch phát triển. Cơ cấu quản lý nhà nước bao gồm Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải (BGTVT), Cục Đường thủy nội địa Việt Nam (Cục ĐTNĐ), cùng các Sở Giao thông vận tải và các cơ quan chức năng địa phương. Luận văn cũng tham khảo kinh nghiệm từ Hà Lan và Trung Quốc, hai quốc gia có hệ thống đường thủy phát triển, để rút ra những bài học quý báu cho Việt Nam trong việc đầu tư hạ tầng, áp dụng công nghệ thông minh và xây dựng chính sách hiệu quả.
Thực trạng pháp luật về kinh doanh vận tải ĐTNĐ tại Việt Nam cho thấy nhiều khía cạnh được quy định chi tiết, nhưng cũng bộc lộ không ít bất cập. Về chủ thể kinh doanh, pháp luật Việt Nam có quy định khá thoáng, chỉ yêu cầu “Có đăng ký kinh doanh ngành nghề vận tải đường thủy nội địa” mà không bắt buộc về mô hình pháp lý cụ thể như doanh nghiệp hay hợp tác xã. Tuy nhiên, đơn vị kinh doanh vận tải ĐTNĐ phải đáp ứng các điều kiện nghiêm ngặt về phương tiện (đảm bảo an toàn kỹ thuật, bảo vệ môi trường, niên hạn sử dụng, đăng ký, đăng kiểm) và về thuyền viên (phải có bằng, chứng chỉ chuyên môn, đủ tiêu chuẩn sức khỏe, và hợp đồng lao động). Đặc biệt, các chủ thể kinh doanh phải mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Đối với vận tải hàng hóa, pháp luật phân biệt giữa hàng hóa thông thường và hàng hóa nguy hiểm. Hàng hóa thông thường yêu cầu hợp đồng vận chuyển rõ ràng, trong đó quy định chi tiết quyền và nghĩa vụ của bên thuê và bên vận chuyển, đảm bảo đóng gói, xếp dỡ đúng quy cách. Đối với hàng hóa nguy hiểm, Nghị định 29/2005/NĐ-CP và Nghị định 110/2014/NĐ-CP đưa ra các quy định chặt chẽ hơn về phân loại, dán biểu trưng, báo hiệu nguy hiểm trên phương tiện, chứng nhận an toàn kỹ thuật, và yêu cầu đào tạo chuyên môn cho thuyền viên, nhân viên liên quan. Các quy định này nhằm giảm thiểu rủi ro và thiệt hại lớn khi xảy ra sự cố, đặc biệt là với các chất độc hại ảnh hưởng đến môi trường. Trong kinh doanh vận tải hành khách, ngoài các điều kiện chung về chủ thể, phương tiện, thuyền viên và bảo hiểm, mỗi loại hình vận tải hành khách (ngang sông, tuyến cố định, theo hợp đồng chuyến, du lịch) đều có các điều kiện đặc thù riêng, từ việc chấp thuận tuyến hoạt động, quy định về trang bị cứu sinh, đến yêu cầu về nhân viên phục vụ và trình độ người điều hành vận tải. Cuối cùng, các quy định về kinh doanh dịch vụ cảng, bến thủy nội địa, được điều chỉnh bởi Thông tư 50/2014/TT-BGTVT và các văn bản liên quan, xác định chủ cảng, bến có thể là tổ chức hoặc cá nhân, phải xây dựng và hoạt động theo quy hoạch, tuân thủ các tiêu chuẩn về an toàn kỹ thuật, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường, và có quyền thu phí, lệ phí theo quy định.
Thực tiễn thi hành pháp luật về kinh doanh vận tải ĐTNĐ tại Việt Nam giai đoạn 2005 đến nay cho thấy một bức tranh vừa có thành tựu đáng ghi nhận, vừa tồn tại nhiều bất cập nghiêm trọng. Mặc dù các mục tiêu phát triển ĐTNĐ đã được BGTVT phê duyệt từ năm 2008 và điều chỉnh năm 2015, với kỳ vọng tăng trưởng khối lượng vận tải hàng hóa và hành khách, thực tế cho thấy sự phát triển vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng. Dù có sự tăng trưởng về lượng khách và hàng hóa vận chuyển, cùng với sự chuyển dịch sang đội tàu trọng tải lớn hơn và sự “lấn sân” của ĐTNĐ vào vận tải ven biển, hoạt động của các cảng và bến thủy nội địa vẫn còn mang tính tự phát, thiếu quy chuẩn. Tỷ lệ lớn các tuyến đường thủy nội địa chưa được quản lý hoặc không khai thác được (gần 93% tổng chiều dài), cho thấy tiềm năng khổng lồ bị bỏ ngỏ. Một trong những hạn chế lớn nhất là việc đầu tư và quy hoạch chưa tương xứng, chủ yếu dựa vào tự nhiên mà không có chiến lược phát triển đồng bộ. BGTVT và Cục ĐTNĐ thừa nhận cần có chính sách đầu tư hợp lý, huy động mọi nguồn lực xã hội và cải thiện công tác quản lý nhà nước, vốn còn yếu kém, thiếu kịp thời và nhân sự chưa đáp ứng yêu cầu. Nguồn vốn đầu tư cho hạ tầng ĐTNĐ luôn là bài toán khó khăn, đặc biệt khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình và nguồn vốn ODA giảm dần.
Bên cạnh đó, việc chấp hành các quy định về an toàn giao thông và điều kiện kinh doanh của các chủ phương tiện, đặc biệt là các đơn vị nhỏ lẻ, còn nhiều yếu kém. Các phương tiện vận tải hành khách thường trang bị sơ sài, lạc hậu, không đạt chuẩn an toàn, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, nơi nhiều tàu thuyền hoạt động không đăng ký, đăng kiểm. Chất lượng thuyền viên cũng là một vấn đề nan giải khi số lượng thuyền viên được đào tạo bài bản còn rất ít, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, và việc thiếu các trung tâm đào tạo, sát hạch khiến việc cấp phép gặp khó khăn. Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông ĐTNĐ chưa thường xuyên, hiệu quả thấp, và sự phối hợp giữa các cấp chính quyền địa phương còn lỏng lẻo. Hơn nữa, công tác quản lý nhà nước còn chồng chéo, rườm rà do quá nhiều văn bản pháp luật cùng điều chỉnh một lĩnh vực, dẫn đến khó khăn trong tra cứu, thực hiện và xử lý vi phạm. Sự phân cấp quản lý không thống nhất giữa các cơ quan nhà nước gây ra phiền toái, tốn kém thời gian và chi phí cho doanh nghiệp, điển hình là tranh chấp thẩm quyền giữa các Cảng vụ ĐTNĐ. Ngoài ra, các dự án nạo vét lòng sông thường bị lợi dụng để khai thác cát, đá trái phép, gây ra sạt lở, ô nhiễm môi trường. Ý thức chấp hành pháp luật của người dân và người điều khiển phương tiện còn thấp, dẫn đến số vụ tai nạn giao thông ĐTNĐ vẫn ở mức đáng báo động. Cuối cùng, việc quy hoạch phát triển các tuyến đường thủy nội địa còn chưa đồng đều, tập trung ở các thành phố lớn mà bỏ quên nhiều khu vực tiềm năng khác, làm giảm hiệu quả khai thác chung.
Để khắc phục những bất cập hiện tại và phát huy tối đa tiềm năng của vận tải ĐTNĐ, luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật. Trước hết, cần định hướng xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng và thuận lợi cho doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị. Điều này bao gồm việc quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước liên quan (giao thông, cảnh sát đường thủy, nông nghiệp, môi trường, chính quyền địa phương) để tránh chồng chéo, đặc biệt trong công tác quản lý và cấp phép. Việc thống nhất, đồng bộ hệ thống pháp luật, có thể thông qua pháp điển hóa, là cần thiết để dễ tra cứu và thực thi. Đồng thời, cần có chính sách thu hút đầu tư rõ ràng, minh bạch cho ngành ĐTNĐ, đặc biệt là các nguồn vốn ODA và đầu tư tư nhân, bằng cách ban hành các quy định khung cụ thể về ưu đãi đầu tư và quy trình thu hồi vốn. Các doanh nghiệp cũng cần chuyển đổi và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thứ hai, nhà nước cần ban hành bổ sung các quy chuẩn, tiêu chuẩn hoạt động về chất lượng dịch vụ và an toàn giao thông ĐTNĐ, cũng như cho các dịch vụ hỗ trợ như cảng, bến thủy nội địa. Các tiêu chuẩn này phải được kiểm soát chặt chẽ và áp dụng thống nhất trên thực tế, phân loại các đơn vị vận tải ĐTNĐ để khuyến khích cạnh tranh lành mạnh. Song song đó, cần rà soát và quy hoạch chi tiết mạng lưới đường thủy, cảng, bến, đầu tư vào cơ sở hạ tầng để nâng cấp luồng tuyến, cầu, và khuyến khích đầu tư vào phương tiện thủy nội địa đạt chuẩn, hỗ trợ đào tạo thuyền viên. Cụ thể, cần nâng cao mức phạt và áp dụng biện pháp bổ sung (tạm dừng hoạt động) đối với các vi phạm an toàn giao thông, và mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các phương tiện vận chuyển đường thủy thuộc công trình đường bộ. Cần quy định rõ ràng về đối tượng quản lý, sử dụng, khai thác cơ sở hạ tầng bến, bãi, và hoạch định lại cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, cấp phép hoạt động cho cảng, bến thủy nội địa nhằm tránh chồng chéo. Các cơ chế thu hút vốn đầu tư cần được củng cố bằng ưu đãi thuế, tiếp cận vốn vay ưu đãi, tạo điều kiện cho nhà đầu tư nạo vét, khai thông tuyến luồng kết hợp quản lý chặt chẽ để tránh lợi dụng khai thác khoáng sản trái phép, và nâng cao tính minh bạch của các dự án. Cuối cùng, các biện pháp hỗ trợ phát triển kinh doanh ĐTNĐ bao gồm khuyến khích liên kết, liên doanh giữa các doanh nghiệp vận tải và dịch vụ, thực hiện chính sách trợ giá cho vận tải hành khách công cộng, đầu tư khai thông luồng tuyến và nâng cấp cảng, bến, xây dựng các trung tâm logistics, đơn giản hóa điều kiện cấp phép bằng lái, chứng chỉ chuyên môn, và khuyến khích phát triển các mô hình vận tải ĐTNĐ mới. Song song đó, các biện pháp nâng cao an toàn giao thông ĐTNĐ cần được thực hiện thông qua tuyên truyền giáo dục pháp luật thường xuyên tại địa phương, tổ chức các cuộc thi, phát tờ rơi, báo đài, nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân. Đặc biệt, việc pháp điển hóa pháp luật về kinh doanh vận tải thủy nội địa, xây dựng thư viện online các văn bản quy định, và trang bị phần mềm quản lý đăng ký phương tiện thống nhất toàn quốc sẽ tạo thuận lợi cho người kinh doanh và các cơ quan quản lý trong việc tra cứu, áp dụng pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý.

