1. Thông tin Luận văn thạc sĩ
- Tên Luận văn: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang
- Tác giả: Nguyễn Hoàng Nhiên
- Số trang: 102
- Năm: 2017
- Nơi xuất bản: Thành phố Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành học: Quản lý kinh tế
- Từ khoá: Động lực làm việc, Công chức, Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kiên Giang, Nhân tố ảnh hưởng, Sự gắn kết giá trị công, Sự cống hiến.
2. Nội dung chính
Luận văn của Nguyễn Hoàng Nhiên tập trung vào việc “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang”. Đề tài xuất phát từ bối cảnh đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, nơi nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu. Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang, với vai trò là cơ quan chuyên môn tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh trong quản lý nhà nước về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, thủy lợi và phát triển nông thôn, đối mặt với thách thức trong việc tạo động lực cho đội ngũ công chức để nâng cao hiệu quả công việc và chất lượng dịch vụ công. Mục tiêu chung của nghiên cứu là tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức tại Sở NN&PTNT Kiên Giang và từ đó đề xuất các giải pháp khuyến khích. Cụ thể, nghiên cứu nhằm phân tích các nguyên nhân này và đưa ra các đề xuất giải pháp nhằm nâng cao động lực làm việc cho công chức tại Sở. Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức, được khảo sát tại trụ sở Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang với dữ liệu thu thập trong giai đoạn 2013-2017.
Để xây dựng cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu, tác giả đã tổng hợp các khái niệm về động cơ làm việc và động lực làm việc từ nhiều học giả như Mitchell, Lương Văn Úc, Bedeian, Higgins, Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân. Trong đó, động lực làm việc được hiểu là sự mong muốn, khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để đạt được mục tiêu cá nhân và tổ chức. Luận văn đặc biệt chú trọng đến thuyết hai nhóm nhân tố của Herzberg, phân chia các yếu tố ảnh hưởng thành nhóm nhân tố thúc đẩy (đặc điểm công việc, sự thăng tiến, thành tích cá nhân, địa vị, sự thừa nhận, trách nhiệm) và nhóm nhân tố duy trì (lương thưởng, chính sách, quan hệ đồng nghiệp, giám sát, ổn định công việc, điều kiện làm việc, cân bằng cuộc sống). Một điểm nhấn quan trọng là việc vận dụng khái niệm “Động lực phụng sự công” (Public Service Motivation – PSM) của Rainey, Perry và Wise, coi động lực làm việc của công chức khu vực công bản chất là PSM, được đo lường thông qua “Sự gắn kết giá trị công” và “Sự cống hiến”. Từ các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm trong nước (Kovach, Nguyễn Thị Thu Trang, Lê Thị Luyến, Nguyễn Thị Hồng Hải, Trần Thị Thúy Anh), tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 6 nhân tố độc lập (Thu nhập, Môi trường và điều kiện làm việc, Đào tạo và thăng tiến, Hệ thống đánh giá, Vai trò của người quản lý trực tiếp, Vai trò của người lãnh đạo) ảnh hưởng đến 2 nhân tố phụ thuộc (Sự gắn kết giá trị công và Sự cống hiến). Phương pháp nghiên cứu bao gồm định tính (tham vấn chuyên gia) và định lượng (phỏng vấn trực tiếp 150 công chức thông qua bảng câu hỏi theo thang đo Likert), sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện và phân tích dữ liệu bằng Cronbach’s Alpha, EFA và hồi quy tuyến tính bội trên phần mềm SPSS 20.0.
Kết quả nghiên cứu đã cung cấp những cái nhìn sâu sắc về đặc điểm của đội ngũ công chức tại Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang, cho thấy sự ưu thế của nam giới, độ tuổi trung bình khá cao (đa số từ 35-50 tuổi), kinh nghiệm công tác lâu năm (trên 10 năm), trình độ chuyên môn tốt (chủ yếu đại học và sau đại học) nhưng thu nhập còn thấp (gần một nửa dưới 5 triệu đồng/tháng). Quá trình kiểm định thang đo bằng Cronbach’s Alpha cho thấy tất cả các thang đo đều đảm bảo độ tin cậy. Phân tích nhân tố khám phá EFA lần 1 đã loại bỏ một biến quan sát (VTLD1) do hệ số tải thấp, và EFA lần 2 đã xác nhận mô hình gồm 6 nhân tố độc lập như giả thuyết ban đầu, giải thích được 68.970% biến thiên của dữ liệu. Phân tích hồi quy tuyến tính bội cho thấy các nhân tố ảnh hưởng khác nhau đến “Sự gắn kết giá trị công” và “Sự cống hiến”. Cụ thể, “Đào tạo và thăng tiến”, “Hệ thống đánh giá”, “Quản lý trực tiếp” có ảnh hưởng cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến cả hai “Sự gắn kết” và “Sự cống hiến”. Trong khi đó, “Thu nhập” và “Vai trò lãnh đạo” chỉ có ảnh hưởng cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến “Sự cống hiến” của công chức, mà không ảnh hưởng đáng kể đến “Sự gắn kết giá trị công”. Nhân tố “Môi trường và điều kiện làm việc” không có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến cả hai biến phụ thuộc.
Dựa trên những kết quả phân tích, luận văn đã đề xuất các hàm ý chính sách quan trọng nhằm nâng cao động lực làm việc của công chức Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang. Về chính sách tiền lương, cần sớm hoàn thiện đề án vị trí việc làm để đảm bảo tính công bằng, hợp lý, đồng thời tạo điều kiện nâng lương đúng hạn hoặc trước hạn và mở rộng các nguồn thu nhập hợp pháp thông qua thưởng hiệu suất, thưởng sáng kiến, gắn kết chặt chẽ với kết quả công việc và khen thưởng kịp thời. Để thúc đẩy “Đào tạo và thăng tiến”, Sở cần tạo cơ hội tích lũy tiêu chuẩn, quy hoạch, đề bạt cán bộ rõ ràng và liên tục bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn. Về “Hệ thống đánh giá”, cần cải thiện tính minh bạch, khách quan trong đánh giá, phát huy tiềm năng cá nhân thông qua mục tiêu rõ ràng và xây dựng các chương trình khuyến khích. “Quản lý trực tiếp” cần được tăng cường thông qua việc phân công công việc cụ thể, hỗ trợ cân bằng công việc-cuộc sống, trao đổi hiệu quả và lắng nghe ý kiến cấp dưới. Cuối cùng, “Vai trò của người lãnh đạo” cần được nâng cao qua việc lãnh đạo gương mẫu, thể hiện sự tin tưởng, truyền đạt tầm nhìn và mục tiêu rõ ràng, đồng thời tạo môi trường động lực thông qua ghi nhận và khen thưởng nhân viên. Nghiên cứu cũng thừa nhận những hạn chế về phạm vi (chỉ tại một Sở), khả năng chủ quan trong việc trả lời khảo sát, quy mô mẫu tương đối nhỏ và chưa xem xét các nhân tố xã hội, văn hóa khác.

