Khuyến mãi đặc biệt
  • Giảm 10% phí tải tài liệu khi like và share website
  • Tặng 1 bộ slide thuyết trình khi tải tài liệu
  • Giảm 5% dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của Luận Văn A-Z
  • Giảm 2% dịch vụ viết thuê luận án tiến sĩ của Luận Văn A-Z

Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Tỉnh Đăk Nông

50.000 VNĐ

Đắk Nông là một tỉnh nằm trong khu vực Tây Nguyên, được tách ra từ tỉnh Đăk Lăk từ năm 2004. Trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng bình quân của tỉnh chậm lại, năng lực cạnh tranh suy giảm, luôn nằm ở nhóm có chỉ số năng lực cạnh tranh thấp nhất cả nước. Vì vậy, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, tỉnh đã định hướng ba lĩnh vực mũi nhọn phát triển trong thời gian tới: công nghiệp bôxit-nhôm; du lịch sinh thái; nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Trong bối cảnh giới hạn về nguồn lực đầu tư, việc đề ra quá nhiều trọng điểm phát triển sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư.

1. Thông tin Luận văn thạc sĩ

  • Tên Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Đăk Nông
  • Tác giả: Hồ Hoàng Ngân
  • Số trang: 89
  • Năm: 2017
  • Nơi xuất bản: Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên ngành học: Chính sách công
  • Từ khoá: Năng lực cạnh tranh, Đăk Nông, Chính sách công, Cụm ngành, Bôxit, Cây công nghiệp lâu năm, Du lịch sinh thái, Phát triển bền vững.

2. Nội dung chính

Đắk Nông, một tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên được tách ra từ Đắk Lắk vào năm 2004, đã trải qua giai đoạn đầu phát triển với nhiều thành tựu đáng kể về kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, từ năm 2011 trở đi, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh có dấu hiệu chậm lại đáng kể, luôn thấp hơn mức bình quân khu vực Tây Nguyên. Đặc biệt, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Đắk Nông liên tục sụt giảm, duy trì ở nhóm thấp nhất trên cả nước trong nhiều năm, cho thấy những thách thức lớn về môi trường kinh doanh và khả năng cạnh tranh. Trước thực trạng này, tỉnh đã định hướng ba lĩnh vực mũi nhọn để thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh và bền vững trong thời gian tới: công nghiệp bôxit-nhôm, du lịch sinh thái và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (tập trung vào cây công nghiệp lâu năm). Tuy nhiên, trong bối cảnh nguồn lực đầu tư còn hạn chế, việc xác định quá nhiều trọng điểm phát triển có thể ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và đặt ra câu hỏi về tính khả thi cũng như sự bền vững của các cụm ngành này khi cùng tồn tại. Luận văn này được thực hiện nhằm mục tiêu phân tích sâu các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của Đắk Nông, nhận diện lợi thế so sánh và những điểm yếu cản trở phát triển. Đặc biệt, nghiên cứu sẽ đánh giá ba mũi nhọn chiến lược mà tỉnh đã đề ra để xác định cụm ngành có tiềm năng trở thành động lực phát triển kinh tế bền vững, từ đó đề xuất các giải pháp chính sách khả thi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể của tỉnh.

Dựa trên khung phân tích của Michael Porter, năng lực cạnh tranh của Đắk Nông được đánh giá ở mức bất lợi lớn so với các tỉnh khác trong khu vực Tây Nguyên. Lợi thế lớn nhất của tỉnh nằm ở tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, bao gồm đất đỏ bazan màu mỡ phù hợp cho cây công nghiệp dài ngày như cà phê, hồ tiêu, điều; khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm; tài nguyên rừng và hệ thống sông ngòi, nước ngầm; đặc biệt là trữ lượng bôxit lớn và tài nguyên du lịch sinh thái độc đáo. Những yếu tố sẵn có này là nền tảng quan trọng cho sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất đối với năng lực cạnh tranh của Đắk Nông lại đến từ chất lượng môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn yếu kém. Cụ thể, hạ tầng giao thông (thiếu đường sắt, hàng không, đường bộ chưa đồng bộ), điện (mất điện thường xuyên, lưới điện không đảm bảo), thủy lợi (chỉ đáp ứng 68% nhu cầu, xuống cấp) và viễn thông (chưa đồng bộ với quy hoạch) đều xếp hạng thấp nhất trong khu vực. Bên cạnh đó, hạ tầng xã hội như giáo dục (thiếu trường đại học/cao đẳng tại chỗ, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp) và y tế (chất lượng khám chữa bệnh thấp, thiếu cơ sở vật chất) cũng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Về chính sách kinh tế và môi trường kinh doanh, Đắk Nông còn gặp nhiều hạn chế như phụ thuộc lớn vào ngân sách trung ương, chi cho đầu tư phát triển thấp, khả năng tiếp cận đất đai khó khăn, tính minh bạch còn thấp, cạnh tranh không bình đẳng và sự năng động của chính quyền địa phương bị đánh giá tiêu cực. Tất cả những yếu tố này làm giảm sức hấp dẫn của tỉnh đối với các nhà đầu tư và cản trở sự phát triển của các doanh nghiệp hiện có.

Luận văn tiến hành phân tích ba cụm ngành tiềm năng của Đắk Nông để xác định động lực phát triển chính. Đối với cụm ngành bôxit, mặc dù có trữ lượng lớn, phân tích cho thấy đây không phải là cụm ngành mang lại lợi ích phát triển kinh tế bền vững. Dự án khai thác bôxit được nhận định là không khả thi về mặt tài chính và kinh tế ngay cả với giá nhôm lạc quan, đồng thời tiềm ẩn nhiều rủi ro về xã hội, văn hóa và môi trường sống. Nó đòi hỏi nguồn vốn đầu tư khổng lồ, sử dụng lượng điện và nước rất lớn, gây áp lực lên hạ tầng vốn đã yếu kém của tỉnh và có thể làm suy kiệt nguồn nước ngầm. Đặc biệt, việc khai thác bôxit dẫn đến chiếm dụng vĩnh viễn diện tích đất nông nghiệp, không thể phục hồi, ảnh hưởng tiêu cực đến sinh kế của người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Thêm vào đó, nguy cơ ô nhiễm từ bùn đỏ và chất thải độc hại là hiểm họa nghiêm trọng cho môi trường tự nhiên và sức khỏe con người. Công nghiệp phụ trợ cho ngành này tại địa phương cũng chưa phát triển. Do đó, cụm ngành bôxit không chỉ không thúc đẩy tăng trưởng mà còn cản trở sự phát triển bền vững của cụm ngành nông nghiệp và du lịch. Đối với cụm ngành du lịch sinh thái, dù có tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên và văn hóa độc đáo, nhưng hiện tại chỉ mới ở giai đoạn đầu, đóng góp vào GDP thấp và đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ Đắk Lắk và Lâm Đồng – những tỉnh có lợi thế tương đồng và hạ tầng du lịch phát triển hơn. Với nguồn lực đầu tư hạn chế của Đắk Nông, việc phát triển đột phá cụm ngành này trong tương lai gần là khó khả thi, nên chưa thể trở thành động lực chính.

Ngược lại, cụm ngành cây công nghiệp lâu năm (cà phê, hồ tiêu) được xác định là cụm ngành tiềm năng nhất mà tỉnh nên tập trung nguồn lực. Đắk Nông hiện là tỉnh đứng thứ ba cả nước về diện tích và sản lượng cà phê, hồ tiêu, cho thấy lợi thế sẵn có về quy mô và kinh nghiệm canh tác. Ngành nông nghiệp nói chung và cây công nghiệp lâu năm nói riêng đóng góp chủ lực vào GRDP (46%) và tạo việc làm cho phần lớn lực lượng lao động địa phương (trên 67%), phù hợp với đặc điểm lao động chưa qua đào tạo. Mặc dù còn tồn tại hạn chế về chế biến sâu, chất lượng sản phẩm xuất khẩu (chủ yếu thô) và sự phụ thuộc vào thương lái, nhưng với nhu cầu thị trường cà phê và hồ tiêu thế giới đang tăng trưởng ổn định, cùng với tiềm năng liên kết vùng với các tỉnh Tây Nguyên khác, cụm ngành này có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế cao và bền vững hơn. Từ những phân tích trên, luận văn đưa ra các khuyến nghị chính sách trọng tâm. Đầu tiên là cải thiện năng lực cạnh tranh tổng thể của tỉnh thông qua đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật (giao thông, thông tin, thủy lợi), nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (khuyến khích cơ sở đào tạo tại chỗ, phát triển giáo dục nghề), và cải thiện môi trường kinh doanh (tăng cường đối thoại, minh bạch hóa thủ tục, công khai đấu thầu, củng cố thể chế pháp lý). Thứ hai, các chính sách cụ thể nhằm phát triển cụm ngành cây công nghiệp lâu năm bao gồm cải thiện công nghiệp chế biến và công nghiệp hỗ trợ, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi giá trị, mở rộng thị trường tiêu thụ và xây dựng thương hiệu, đẩy mạnh liên kết vùng với Đắk Lắk và Lâm Đồng, cũng như tăng cường vai trò của các hiệp hội ngành nghề tại địa phương.

Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Tỉnh Đăk Nông
Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Tỉnh Đăk Nông