Khuyến mãi đặc biệt
  • Giảm 10% phí tải tài liệu khi like và share website
  • Tặng 1 bộ slide thuyết trình khi tải tài liệu
  • Giảm 5% dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của Luận Văn A-Z
  • Giảm 2% dịch vụ viết thuê luận án tiến sĩ của Luận Văn A-Z

Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Việc Lựa Chọn Chính Sách Kế Toán Của Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa – Nghiên Cứu Đối Với Doanh Nghiệp Sản Xuất Ngành Dệt May Trên Địa Bàn Thành Phố Hồ Chí Minh

50.000 VNĐ

Luận văn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán (CSKT) của doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành dệt may tại TP.HCM. Mục tiêu là nhận diện và đo lường mức độ tác động của các nhân tố này. Sử dụng phương pháp định lượng và phân tích hồi quy, nghiên cứu đã xác định 4 nhân tố chính: thuế, tính trung thực hợp lý của báo cáo tài chính, đáp ứng yêu cầu đối tượng bên trong, và sự tin cậy của đối tượng bên ngoài doanh nghiệp. Trong đó, nhân tố thuế có ảnh hưởng mạnh nhất. Kết quả cung cấp giải pháp giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả và tính minh bạch trong lựa chọn CSKT.

1. Thông tin Luận văn thạc sĩ

  • Tên Luận văn: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA – NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT NGÀNH DỆT MAY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Tác giả: LÊ THỊ MAI CHI
  • Số trang: 101
  • Năm: 2017
  • Nơi xuất bản: TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, TP. HỒ CHÍ MINH
  • Chuyên ngành học: Kế Toán (Mã số: 60340301)
  • Từ khoá: Chính sách kế toán (CSKT), Lựa chọn chính sách kế toán (LCCSKT), Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), Ngành dệt may, Các nhân tố ảnh hưởng, Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM).

2. Nội dung chính

Luận văn nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán (CSKT) của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) sản xuất ngành dệt may trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò quan trọng của CSKT trong việc hình thành báo cáo tài chính (BCTC), cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để đưa ra các quyết định kinh tế. Ngành dệt may tại Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng là một ngành công nghiệp truyền thống, đóng góp đáng kể vào nền kinh tế, giải quyết nhiều việc làm và là ngành xuất khẩu chủ lực. Với đặc thù đa phần là DNNVV, nhu cầu về thông tin tài chính kịp thời, chính xác để quản lý và thu hút vốn đầu tư là rất lớn. Tuy nhiên, việc lựa chọn CSKT tại các DNNVV ngành dệt may còn nhiều hạn chế, đôi khi bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan nhằm điều chỉnh thông tin trên BCTC. Do đó, mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nhận diện và đo lường mức độ tác động của các nhân tố này. Luận văn kỳ vọng sẽ hệ thống hóa được các lý thuyết về CSKT, cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho bối cảnh cụ thể của DNNVV ngành dệt may tại TP.HCM, từ đó đưa ra các kiến nghị giúp nâng cao hiệu quả trong việc lựa chọn CSKT và giảm thiểu tác động tiêu cực từ việc điều chỉnh BCTC. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong các DNNVV sản xuất ngành dệt may tại TP.HCM, với dữ liệu thu thập trong giai đoạn 2015-2016. Các nghiên cứu trước đây trên thế giới đã khám phá nhiều nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT như kế hoạch tiền thưởng, nợ, chi phí chính trị (Healy 1985, Watts và Zimmerman 1990), hoạt động thương mại quốc tế (Charles P. Cullinan 1999), nhận thức các bên liên quan và mục tiêu thuế/lợi nhuận (Christos Tzovas 2006). Tại Việt Nam, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự ảnh hưởng của thuế, mức vay nợ, trình độ kế toán viên đối với các ngành khác nhau, nhưng còn ít công trình đi sâu phân tích đầy đủ mối quan hệ và mức độ tác động của các nhân tố dưới quan điểm của các nhóm đối tượng khảo sát, đặc biệt là chưa có nghiên cứu chuyên biệt cho DNNVV ngành dệt may tại Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), tạo ra “khe hổng” mà luận văn này hướng tới.

Cơ sở lý thuyết của luận văn bắt đầu với định nghĩa CSKT theo Chuẩn mực kế toán quốc tế số 8 (IAS 8) và Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 29 (VAS 29), nhấn mạnh CSKT là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể mà doanh nghiệp áp dụng để lập và trình bày BCTC. Luận văn tập trung vào khía cạnh các phương pháp kế toán. Vai trò của CSKT được phân tích đối với nhiều đối tượng khác nhau: nhân viên kế toán (công cụ xử lý thông tin), nhà quản lý (công cụ giao tiếp với các bên liên quan), chủ sở hữu (đánh giá hoạt động), cơ quan thuế (kiểm tra, giám sát), tổ chức kiểm toán độc lập (phân tích thông tin), và nhà đầu tư tiềm năng (phân tích, so sánh để ra quyết định). Các mục tiêu của việc lựa chọn CSKT được xác định bao gồm tối đa hóa lợi nhuận, bảo toàn vốn (san bằng lợi nhuận) và tuân thủ các quy định của luật thuế, theo nghiên cứu của Mariana Gurău (2014). Tại Việt Nam, CSKT chịu sự điều tiết của Luật Kế toán, Hệ thống Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (26 chuẩn mực) và các Thông tư hướng dẫn (như TT200/2014/TT-BTC, TT133/2016/TT-BTC). Định nghĩa DNNVV được sử dụng dựa trên Nghị định 56/2009/NĐ-CP, phân loại theo vốn hoặc lao động. Đặc điểm của ngành dệt may tại TP.HCM, nơi các DNNVV chiếm đa số, cho thấy việc lựa chọn CSKT thường đơn giản, quen thuộc, dễ áp dụng do hạn chế về chi phí, trình độ kế toán viên và xu hướng thuê ngoài, dẫn đến BCTC không phản ánh hết tính đa dạng của nghiệp vụ kinh tế và thường bị “làm đẹp” để phục vụ các mục đích như giảm thuế hoặc thu hút vốn. Lý thuyết nền để giải thích các nhân tố ảnh hưởng là lý thuyết ủy nhiệm (Jensen và Meckling 1976), xem xét các mâu thuẫn đại diện bên trong (chủ sở hữu – quản lý) và bên ngoài (doanh nghiệp – các bên liên quan khác như nhà đầu tư, chủ nợ, cơ quan thuế) do bất cân xứng thông tin, thúc đẩy việc lựa chọn CSKT nhằm tạo hình ảnh có lợi. Dựa trên các nghiên cứu trước, luận văn đề xuất 6 nhân tố độc lập ban đầu ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT: Thông tin, Chi phí, Thuế, Đáp ứng yêu cầu các đối tượng bên trong, Sự tin cậy của các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, và Tính trung thực và hợp lý BCTC.

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp định lượng với quy trình chặt chẽ. Đầu tiên, thang đo nháp được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đó. Sau đó, một nghiên cứu khám phá sơ bộ được thực hiện thông qua phỏng vấn thử 20 đối tượng để kiểm tra sự rõ ràng của bảng câu hỏi và thu thập thông tin ban đầu, từ đó điều chỉnh thang đo. Nghiên cứu chính thức được tiến hành bằng phương pháp định lượng, thu thập dữ liệu thông qua bảng câu hỏi trực tiếp từ những người hành nghề kế toán tại các DNNVV ngành dệt may ở TP.HCM. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 19, sử dụng các công cụ thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan và phân tích hồi quy bội. Đối với kiểm định Cronbach’s Alpha, các biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.4 sẽ bị loại và tiêu chuẩn Alpha từ 0.7 trở lên được chấp nhận. Phân tích EFA được sử dụng để rút gọn các biến quan sát thành các nhân tố có ý nghĩa, với các tiêu chí như chỉ số KMO > 0.5, kiểm định Barlett có Sig. 50%. Mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm 6 nhân tố độc lập đã nêu và một biến phụ thuộc là Lựa chọn CSKT, với giả thuyết H1-H6 cho rằng tất cả các nhân tố độc lập biến thiên cùng chiều với biến phụ thuộc. Thang đo các biến độc lập kế thừa 20 biến quan sát từ Szilveszter Fekete và cộng sự (2010), trong khi thang đo biến phụ thuộc được xây dựng dựa trên Mariana Gurău (2014) với 3 biến đo lường (mức độ tăng lợi nhuận, mức độ bảo toàn vốn/lợi nhuận bền vững, mức độ phù hợp CSKT với luật thuế). Về kích thước mẫu, theo Hair & cộng sự (1998), cần tối thiểu 5 mẫu trên mỗi biến quan sát, tức là 23 biến * 5 = 115 mẫu. Luận văn đã phát 200 bảng câu hỏi và thu về 160 bảng hợp lệ để phân tích, đảm bảo đủ kích cỡ mẫu.

Kết quả nghiên cứu định lượng sau khi đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha cho thấy tất cả các thang đo đều đạt yêu cầu. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) các biến độc lập cho ra 6 nhóm nhân tố như dự kiến, với chỉ số KMO là 0.782 (>0.5) và Sig. của kiểm định Barlett là 0.000 (<0.05), cùng tổng phương sai trích là 82.13%, xác nhận dữ liệu phù hợp để phân tích nhân tố. Tương tự, EFA cho biến phụ thuộc cũng xác nhận một nhân tố duy nhất với 81.25% phương sai trích. Phân tích tương quan ban đầu cho thấy các biến độc lập F2 (Thuế), F3 (Đáp ứng yêu cầu các đối tượng bên trong), F4 (Thông tin), F5 (Sự tin cậy của các đối tượng bên ngoài DN) có tương quan có ý nghĩa với biến phụ thuộc Lựa chọn CSKT. Biến F3 có tương quan mạnh nhất (0.430). Tiếp theo, phân tích hồi quy bội cho thấy mô hình nghiên cứu có ý nghĩa thống kê (Sig. = 0.000), không có hiện tượng tự tương quan (Durbin-Watson = 2.078) và không có đa cộng tuyến (VIF < 5). Hệ số R² hiệu chỉnh là 0.372, tức là mô hình giải thích được 37.2% sự biến thiên của Lựa chọn CSKT. Luận văn kết luận có 4 nhân tố tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CSKT của DNNVV ngành dệt may tại TP.HCM: (1) Thuế (Beta = 0.226, tác động mạnh nhất), (2) Tính trung thực và hợp lý BCTC (Beta = 0.186), (3) Sự tin cậy của các đối tượng bên ngoài DN (Beta = 0.165), và (4) Đáp ứng yêu cầu các đối tượng bên trong (Beta = 0.123). Dựa trên kết quả này, luận văn đề xuất các gợi ý chính sách. Đối với cơ quan thuế, cần thu hẹp khoảng cách giữa chính sách thuế và kế toán, tăng cường đào tạo, kiểm tra, và ứng dụng công nghệ thông tin. Đối với các đối tượng sử dụng BCTC (chủ sở hữu, ngân hàng, nhà đầu tư), cần yêu cầu minh bạch thông tin, tham khảo nhiều nguồn dữ liệu ngoài BCTC, và tự trang bị kiến thức tài chính kế toán. Đối với bản thân DNNVV ngành dệt may, cần nâng cao năng lực chuyên môn của nhân viên kế toán, xây dựng bộ phận kiểm soát nội bộ hiệu quả và thực hiện kiểm toán định kỳ để đảm bảo tính trung thực và hợp lý của BCTC. Hạn chế của luận văn là kích thước mẫu (160) và phương pháp chọn mẫu thuận tiện, cùng với phạm vi nghiên cứu giới hạn. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khu vực, tăng cỡ mẫu, khám phá thêm các nhân tố mới và nâng cao hệ số R² hiệu chỉnh của mô hình.

Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Việc Lựa Chọn Chính Sách Kế Toán Của Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa – Nghiên Cứu Đối Với Doanh Nghiệp Sản Xuất Ngành Dệt May Trên Địa Bàn Thành Phố Hồ Chí Minh
Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Việc Lựa Chọn Chính Sách Kế Toán Của Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa – Nghiên Cứu Đối Với Doanh Nghiệp Sản Xuất Ngành Dệt May Trên Địa Bàn Thành Phố Hồ Chí Minh