Khuyến mãi đặc biệt
  • Giảm 10% phí tải tài liệu khi like và share website
  • Tặng 1 bộ slide thuyết trình khi tải tài liệu
  • Giảm 5% dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của Luận Văn A-Z
  • Giảm 2% dịch vụ viết thuê luận án tiến sĩ của Luận Văn A-Z

Vai Trò Của Tổ Hợp Tác Đối Với Hiệu Quả Sản Xuất Nông Nghiệp Tại Huyện Trà Cú, Tỉnh Trà Vinh

50.000 VNĐ

Nghiên cứu này phân tích tác động của Tổ hợp tác đến lợi nhuận của nông hộ tại huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Sử dụng thống kê mô tả và mô hình hồi quy, kết quả cho thấy việc tham gia Tổ hợp tác giúp nông hộ tăng lợi nhuận, giảm chi phí, cải tiến kỹ thuật sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và có đầu ra ổn định. Các yếu tố như diện tích đất, kinh nghiệm, giới tính, trình độ học vấn và các hỗ trợ từ Tổ hợp tác đều ảnh hưởng đến lợi nhuận. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổ hợp tác, góp phần phát triển kinh tế nông thôn.

1. Thông tin Luận văn thạc sĩ

  • Tên Luận văn: VAI TRÒ CỦA TỔ HỢP TÁC ĐỐI VỚI HIỆU QUẢ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Tác giả: TRẦN VĂN PHONG
  • Số trang: 104
  • Năm: 2017
  • Nơi xuất bản: Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
  • Chuyên ngành học: Quản lý kinh tế
  • Từ khoá: Tổ hợp tác, kinh tế hợp tác, hiệu quả sản xuất nông nghiệp, thu nhập nông hộ, Trà Cú, Trà Vinh.

2. Nội dung chính

Kinh tế hợp tác, đặc biệt là các Tổ hợp tác (THT), đóng vai trò then chốt và xuyên suốt trong chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây là chủ trương nhằm đổi mới toàn diện nội dung, hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất hàng hóa giá trị gia tăng cao, tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Tại huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, một vùng thuần nông với nhiều thách thức về vốn, công nghệ, thị trường và vị thế yếu của nông dân trong chuỗi giá trị, việc phát triển THT được kỳ vọng sẽ giải quyết những khó khăn bức xúc của bà con. Các hộ nông dân sản xuất đơn lẻ thường thiếu thông tin thị trường, khó tiếp cận dịch vụ đầu vào và đầu ra, dễ bị ép giá, dẫn đến thu nhập bấp bênh. THT ra đời nhằm khắc phục những hạn chế này, tạo sự liên kết giữa nông dân – doanh nghiệp – thị trường, đồng thời là nền tảng để hình thành các hợp tác xã kiểu mới. Luận văn này tập trung nghiên cứu tác động của việc tham gia THT đến hiệu quả sản xuất và lợi nhuận của các nông hộ tại Trà Cú, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các THT, góp phần phát triển kinh tế – xã hội địa phương và cải thiện đời sống nhân dân.

Các nghiên cứu trước đây trên thế giới đã chỉ ra nhiều lợi ích của các tổ chức hợp tác nông nghiệp đối với sinh kế nông dân, hiệu quả kỹ thuật, đa dạng hóa giống cây trồng, tiếp cận công nghệ mới, giảm chi phí giao dịch, thương mại hóa và tiếp cận thị trường. Cụ thể, các THT có thể làm tăng sản lượng, năng suất và thu nhập của nông dân (Kumar, Getnet và Anullo, Ma và Abdulai), đặc biệt có ý nghĩa đối với các nông trại quy mô nhỏ. Tác động đến hiệu quả kỹ thuật còn nhiều tranh cãi, nhưng một số nghiên cứu cho thấy việc tham gia THT có thể cải thiện khả năng tiếp cận các yếu tố đầu vào và dịch vụ khuyến nông, từ đó nâng cao hiệu quả kỹ thuật (Abate và cộng sự). THT cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự đa dạng giống cây trồng và đẩy nhanh thời gian áp dụng công nghệ mới (Di Falco và cộng sự). Về mặt kinh tế, THT giúp giảm chi phí giao dịch, tăng khả năng thương mại hóa sản phẩm và cải thiện khả năng tiếp cận thị trường (Chagwiza, Bernard và cộng sự, Moustier và cộng sự), giúp nông dân bán sản phẩm với giá cao hơn và tiếp cận các chuỗi siêu thị. Ngoài ra, THT còn có tác động xã hội như xây dựng vốn xã hội, nâng cao vị thế của phụ nữ và góp phần xóa đói giảm nghèo (Verhofstadt và Maertens). Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu cho thấy các THT có thể có tác động tiêu cực đến môi trường hoặc không khuyến khích việc áp dụng công nghệ tiên tiến trong một số trường hợp (Mojo và cộng sự, Rodrigo). Luận văn này sử dụng phương pháp định lượng, khảo sát 231 nông hộ tại Trà Cú (bao gồm 116 hộ tham gia THT và 115 hộ không tham gia) và áp dụng kiểm định t-test cùng mô hình hồi quy OLS để đánh giá tác động này.

Kết quả phân tích định lượng của luận văn đã cung cấp những bằng chứng rõ ràng về vai trò của THT tại huyện Trà Cú. Thống kê mô tả cho thấy, gần một nửa số hộ được khảo sát đã tham gia THT, chủ yếu góp vốn bằng công lao động. Các THT đã hỗ trợ thành viên rất tốt về tập huấn kỹ thuật sản xuất (100% hộ thành viên được hỗ trợ) và thông tin giá cả nông sản (84.2%), nhưng việc hỗ trợ vốn vay, phân bón, thuốc trừ sâu, hay tham quan học tập còn hạn chế. Đa số các hộ thành viên đều nhận thấy THT giúp giảm chi phí sản xuất (92.1%), cải tiến kỹ thuật (96.5%), bán sản phẩm với giá tốt hơn (88.6%) và tăng thu nhập (87.7%). Đặc biệt, kết quả kiểm định t-test cho thấy lợi nhuận trung bình của các hộ tham gia THT (45.6 triệu đồng) cao hơn đáng kể so với các hộ không tham gia (22.3 triệu đồng). Phân tích hồi quy OLS further chỉ ra rằng các yếu tố như diện tích đất sản xuất, số lần họp mặt của THT, và sự hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm có tác động tích cực và ý nghĩa thống kê đến lợi nhuận của nông hộ. Ngược lại, kinh nghiệm sản xuất tăng thêm và giới tính nam của chủ hộ lại có xu hướng làm giảm lợi nhuận, cho thấy có thể tồn tại những phương pháp sản xuất truyền thống kém hiệu quả hoặc sự khác biệt trong vai trò quyết định sản xuất giữa các giới tính. Các yếu tố khác như trình độ học vấn của chủ hộ và tổ trưởng, số lượng thành viên, và nhiều hoạt động hỗ trợ khác của THT (tập huấn kỹ thuật, vay vốn, phân bón, tham quan) lại không có ý nghĩa thống kê trong việc giải thích lợi nhuận.

Tóm lại, luận văn đã khẳng định vai trò và vị trí quan trọng của THT trong phát triển kinh tế – xã hội địa phương, cải thiện đời sống nhân dân tại Trà Cú. Việc tham gia THT mang lại lợi nhuận cao hơn đáng kể cho nông hộ so với việc sản xuất đơn lẻ, đồng thời giúp khắc phục nhiều hạn chế về vốn, kỹ thuật, thị trường. Tuy nhiên, các THT vẫn đối mặt với nhiều thách thức như thiếu nguồn nhân lực chuyên môn, hạn chế về vốn và công nghệ, cũng như việc xây dựng thương hiệu. Để phát huy tối đa tiềm năng của THT, luận văn đề xuất một số kiến nghị quan trọng. Chính quyền địa phương cần duy trì và đổi mới các phương pháp tập huấn kỹ thuật, chuyển giao khoa học công nghệ và đào tạo quản lý kinh tế hộ, đặc biệt cho thế hệ trẻ và phụ nữ. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nâng cao trình độ học vấn cho thành viên THT và tổ trưởng, tạo điều kiện tiếp cận thông tin và khoa học kỹ thuật hiện đại. Ngành nông nghiệp và khoa học công nghệ cần khuyến khích doanh nghiệp tham gia hỗ trợ tư vấn, chia sẻ kinh nghiệm cho THT. Các THT cần tăng cường liên kết “bốn nhà” (nhà nông – nhà khoa học – nhà nước – doanh nghiệp) để đảm bảo đầu vào, đầu ra ổn định và lợi nhuận bền vững, đồng thời duy trì các cuộc họp mặt để trao đổi kinh nghiệm. Cuối cùng, THT cần phối hợp với các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội để tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi, đặc biệt cho các thành viên có hoàn cảnh khó khăn, góp phần ổn định sản xuất và nâng cao thu nhập cho nông dân.

Vai Trò Của Tổ Hợp Tác Đối Với Hiệu Quả Sản Xuất Nông Nghiệp Tại Huyện Trà Cú, Tỉnh Trà Vinh
Vai Trò Của Tổ Hợp Tác Đối Với Hiệu Quả Sản Xuất Nông Nghiệp Tại Huyện Trà Cú, Tỉnh Trà Vinh