Khuyến mãi đặc biệt
  • Giảm 10% phí tải tài liệu khi like và share website
  • Tặng 1 bộ slide thuyết trình khi tải tài liệu
  • Giảm 5% dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của Luận Văn A-Z
  • Giảm 2% dịch vụ viết thuê luận án tiến sĩ của Luận Văn A-Z

Pháp Luật Về Hoạt Động Kinh Doanh Vận Tải Đường Bộ Qua Thực Tiễn Thi Hành Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

50.000 VNĐ

Luận văn nghiên cứu sự phát triển của pháp luật kinh doanh vận tải đường bộ tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường đang thay đổi nhanh chóng, với sự xuất hiện của các mô hình công nghệ như Grab, Uber, và nhiều bất cập trong quản lý. Tác giả đánh giá thực trạng pháp luật dựa trên các nguyên tắc an toàn công cộng, cạnh tranh lành mạnh và đa dạng hóa loại hình vận tải, đồng thời phân tích tác động lên chi phí logistic. Luận văn sử dụng phương pháp ROCCIPI để tìm nguyên nhân các vấn đề như “xe dù, bến cóc, xe quá tải” và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng, cạnh tranh và giảm chi phí vận tải, góp phần cải thiện giao thông và môi trường kinh doanh.

1. Thông tin Luận văn thạc sĩ

  • Tên Luận văn: Pháp luật về hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ qua thực tiễn thi hành tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Tác giả: Lương Bá Trí
  • Số trang: 84
  • Năm: 2017
  • Nơi xuất bản: TP. Hồ Chí Minh
  • Chuyên ngành học: Luật Kinh tế
  • Từ khoá: Luật Giao Thông Đường Bộ; Vận Tải Đường Bộ; Luật Doanh Nghiệp; Luật Cạnh Tranh; Quản lý nhà nước; Quy hoạch đô thị.

2. Nội dung chính

Luận văn “Pháp luật về hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ qua thực tiễn thi hành tại Thành phố Hồ Chí Minh” của Lương Bá Trí tập trung nghiên cứu bối cảnh thị trường vận tải đường bộ đang phát triển nhanh chóng, đặc biệt với sự xuất hiện của các mô hình công nghệ mới như Grab và Uber, đặt ra nhiều thách thức cho cơ chế quản lý và hệ thống pháp luật hiện hành. Tác giả nhận định rằng sự thiếu đồng bộ và chậm thích ứng của pháp luật đã tạo điều kiện cho cạnh tranh không lành mạnh và tình trạng hỗn loạn trên thị trường vận tải. Thách thức này liên quan đến quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam. Mục tiêu chính của luận văn là nghiên cứu tiến trình phát triển của pháp luật kinh doanh vận tải đường bộ từ thời kỳ Đổi Mới đến nay, đồng thời đánh giá thực trạng pháp luật dựa trên các nguyên tắc khoa học về đảm bảo an toàn công cộng, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và đa dạng hóa, liên thông các loại hình vận tải, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa. Bằng cách tiếp cận liên ngành kinh tế – luật, luận văn phân tích tác động của các bất cập pháp lý lên chi phí logistics ở Việt Nam. Tác giả cũng đặc biệt chú trọng đến việc ứng dụng phương pháp ROCCIPI để tìm ra nguyên nhân sâu xa của các vi phạm như “xe dù, bến cóc, xe quá tải” và đặt vấn đề vận tải đường bộ trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, phân tích bản chất pháp lý của Uber, Grab. Từ đó, luận văn đề xuất các giải pháp toàn diện bao gồm việc ứng dụng công nghệ thông tin, bản đồ số hóa để giải quyết các vấn đề về bến bãi, xử phạt “nguội” và liên thông dữ liệu, nhằm nâng cao chất lượng vận tải, tăng cường cạnh tranh, giảm rào cản thị trường, cắt giảm chi phí logistics, đồng thời góp phần cải thiện môi trường kinh doanh và giao thông đô thị, giảm ùn tắc, hướng tới quản lý minh bạch và nâng cao phúc lợi công cộng.

Trong chương 1, luận văn cung cấp cái nhìn tổng quan về khái niệm, phân loại và đặc điểm của kinh doanh vận tải đường bộ, nhấn mạnh vai trò thiết yếu của vận tải trong sự phát triển kinh tế – xã hội. Lịch sử phát triển của pháp luật điều chỉnh hoạt động này tại Việt Nam được trình bày, từ Luật Giao thông đường bộ 2001 đến 2008 và các văn bản dưới luật, cho thấy những nỗ lực của Nhà nước trong việc hoàn thiện khung pháp lý để quản lý các hoạt động vận tải. Tuy nhiên, tác giả chỉ ra rằng những biến động nhanh chóng của thị trường, sự xuất hiện của các phương thức vận tải mới đã khiến pháp luật hiện hành chưa thể tiên liệu và điều chỉnh hiệu quả, dẫn đến nhiều bất cập trong thực tiễn. Chương này cũng phân tích các nguyên tắc điều chỉnh kinh doanh vận tải đường bộ bao gồm đảm bảo an toàn hành khách và trật tự công cộng cân bằng với chi phí giám sát, tăng cường cạnh tranh lành mạnh để giảm chi phí vận tải tối đa, cũng như đa dạng hóa và liên thông các loại hình dịch vụ vận tải. Tác giả khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng một hệ thống pháp luật chuẩn mực, phù hợp để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, đồng thời đối mặt với thách thức quản lý các quan hệ xã hội mới phát sinh như việc cân bằng giữa taxi truyền thống và xe hợp đồng điện tử, hay giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Tiếp đến, luận văn trình bày chi tiết về chủ thể kinh doanh, các điều kiện và loại hình kinh doanh vận tải đường bộ theo quy định pháp luật hiện hành, cùng với các thủ tục đăng ký doanh nghiệp và cấp phép kinh doanh vận tải đường bộ bằng ô tô, làm rõ những bước cần thiết để một tổ chức hoặc cá nhân có thể tham gia vào lĩnh vực này.

Chương 2 của luận văn đi sâu vào thực tiễn áp dụng pháp luật về kinh doanh vận tải đường bộ tại TP. Hồ Chí Minh, một trung tâm kinh tế lớn với mật độ dân số và nhu cầu vận tải cao. Luận văn tổng quan về tình hình đăng ký doanh nghiệp, mức độ cạnh tranh và khuynh hướng cạnh tranh mới trong bối cảnh toàn cầu hóa, đặc biệt là sự trỗi dậy của các ứng dụng công nghệ như Uber và Grab. Tác giả đánh giá cao những thành công bước đầu của Chính phủ trong việc “kiến tạo” và chủ động đón bắt cơ hội từ cách mạng công nghiệp 4.0, thể hiện qua việc thí điểm hợp đồng điện tử trong vận tải hành khách và xây dựng sàn giao dịch vận tải trực tuyến. Ngoài ra, việc điều chỉnh chính sách thuế để đảm bảo công bằng giữa các loại hình kinh doanh vận tải hành khách và việc mở rộng mạng lưới, tăng cường độ tin cậy của vận tải công cộng thông qua lắp đặt camera trên xe buýt cũng được ghi nhận là những điểm sáng. Tuy nhiên, luận văn cũng thẳng thắn chỉ ra những tồn tại, vướng mắc và bất cập lớn như tình trạng “xe dù, bến cóc” vẫn tràn lan, “taxi mù” lộng hành, xe buýt kém chất lượng và nạn xe chở quá khổ, quá tải gây hư hại hạ tầng và mất an toàn giao thông. Những quy định pháp luật chưa khả thi, tạo dư luận không tốt trong nhân dân và đặc biệt là dữ liệu về xử phạt vi phạm hành chính chưa được kết nối, hợp nhất, liên thông tốt đã làm giảm hiệu quả quản lý và răn đe. Các nguyên nhân của những vướng mắc này được phân tích sâu bằng phương pháp ROCCIPI, bao gồm năng lực hạn chế của chính quyền trong đáp ứng hạ tầng, năng lực giám sát của cơ quan chức năng, lợi ích kinh tế lớn từ việc vi phạm pháp luật và quy trình hành chính rườm rà, phức tạp.

Chương 3 của luận văn đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh vận tải đường bộ, nhấn mạnh rằng việc cải thiện môi trường kinh doanh và giải quyết các vấn đề tồn đọng đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều cấp, nhiều ngành. Luận văn đưa ra bốn định hướng chiến lược: thứ nhất, giảm áp lực đô thị hóa quá mức lên TP. Hồ Chí Minh thông qua việc phát triển đồng đều các vùng kinh tế trọng điểm lân cận; thứ hai, tập trung phát triển giao thông công cộng mạnh mẽ, kết hợp với các chính sách hạn chế phương tiện cá nhân, đồng thời kêu gọi xã hội hóa đầu tư và chấm dứt trợ giá cho xe buýt để nâng cao chất lượng dịch vụ; thứ ba, khai thác triệt để cách mạng công nghiệp 4.0 trong giao thông, khuyến khích các công nghệ đi chung và kinh tế chia sẻ; và thứ tư, ứng dụng giao thông tích hợp giữa các loại hình vận tải để tối ưu hóa hiệu quả. Từ những định hướng này, luận văn đề xuất các giải pháp cụ thể. Về dài hạn, cần có quy hoạch bến bãi hợp lý, cho phép quảng cáo trên xe buýt để tăng nguồn thu, và siết chặt quy định về trách nhiệm liên quan đến vận chuyển hàng hóa quá tải, đồng thời thống nhất tải trọng xe theo thông lệ quốc tế. Về cấp bách, cần xây dựng ứng dụng bản đồ công khai điểm đón trả khách, trao quyền cho CSGT phối hợp xử lý “xe dù,” điều chỉnh giờ làm/học để giảm ùn tắc và tạo khuôn khổ pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong “phạt nguội.” Cuối cùng, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành, đặc biệt là Nghị định 46/2016/NĐ-CP, tăng mức phạt và bổ sung hình phạt nghiêm khắc hơn đối với các lỗi vi phạm phổ biến trong kinh doanh vận tải hành khách (xe hợp đồng bán vé, taxi mù, xe buýt chở quá tải) và vận tải hàng hóa (chở quá khổ, quá tải), nhằm tăng tính răn đe, đảm bảo công bằng và an toàn giao thông.

Pháp Luật Về Hoạt Động Kinh Doanh Vận Tải Đường Bộ Qua Thực Tiễn Thi Hành Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Pháp Luật Về Hoạt Động Kinh Doanh Vận Tải Đường Bộ Qua Thực Tiễn Thi Hành Tại Thành Phố Hồ Chí Minh