Khuyến mãi đặc biệt
  • Giảm 10% phí tải tài liệu khi like và share website
  • Tặng 1 bộ slide thuyết trình khi tải tài liệu
  • Giảm 5% dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của Luận Văn A-Z
  • Giảm 2% dịch vụ viết thuê luận án tiến sĩ của Luận Văn A-Z

Tác Động Đầu Tư Công Đến Tăng Trưởng Kinh Tế Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long

50.000 VNĐ

Luận án nghiên cứu tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2001-2014. Đề tài hệ thống hóa lý thuyết về đầu tư công và tăng trưởng, phân tích thực trạng kinh tế và đầu tư công của vùng. Kết quả cho thấy đầu tư công chưa tạo được tác động tích cực đáng kể đến tăng trưởng kinh tế khu vực, thậm chí có thể làm giảm hiệu quả đầu tư nước ngoài. Luận án chỉ ra nhiều hạn chế trong quản lý đầu tư công từ định hướng, thẩm định đến thực hiện và kiểm tra, gây lãng phí nguồn lực. Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công, như tái cấu trúc quy hoạch, phát triển hạ tầng đồng bộ và cải thiện quản lý.

1. Thông tin Luận văn thạc sĩ

  • Tên Luận văn: TÁC ĐỘNG ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
  • Tác giả: NGÔ ANH TÍN
  • Số trang: 174
  • Năm: 2017
  • Nơi xuất bản: TP. HỒ CHÍ MINH
  • Chuyên ngành học: Tài chính ngân hàng (Tài chính công)
  • Từ khoá: Đầu tư công, Tăng trưởng kinh tế, Đồng bằng sông Cửu Long, Hiệu quả đầu tư công, Quản lý đầu tư công, Chính sách phát triển.

2. Nội dung chính

Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế bền vững là mục tiêu cốt lõi của mọi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó yếu tố đầu tư công luôn đóng vai trò quan trọng và thu hút sự quan tâm của giới hoạch định chính sách. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế vẫn còn nhiều tranh luận trên thế giới, với các nghiên cứu cho thấy tác động tích cực, tiêu cực, không đáng kể hoặc phi tuyến tính, tùy thuộc vào bối cảnh thể chế và cơ chế chính sách. Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về tác động tương quan này còn hạn chế, đặc biệt ở cấp độ vùng. Luận án này mong muốn đóng góp vào việc lấp đầy khoảng trống đó, bằng cách tập trung nghiên cứu vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), một vùng kinh tế trọng điểm có vai trò đảm bảo an ninh lương thực quốc gia nhưng còn đối mặt với nhiều hạn chế như kết cấu hạ tầng yếu kém, công nghiệp phát triển chậm và hệ thống giáo dục chưa tương xứng. Mục tiêu tổng quát của luận án là hệ thống hóa lý thuyết về đầu tư công và tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế, áp dụng vào điều kiện đặc thù của ĐBSCL để phân tích thực trạng, rút ra những điểm mạnh, yếu, thời cơ, thách thức và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế toàn cầu, đồng thời cảnh báo về biến đổi khí hậu và nhiễm mặn. Các mục tiêu cụ thể bao gồm phân tích thực trạng đầu tư công, đánh giá thực nghiệm tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế, và phân tích cơ chế quản lý đầu tư công tại ĐBSCL trong giai đoạn 2001-2014. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào ĐBSCL, xem xét mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế trong các ngành kinh tế – xã hội, hạ tầng, cùng với cơ chế quản lý và hiệu quả đầu tư công. Luận án sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu thống kê, điều tra khảo sát ý kiến chuyên gia, phân tích tổng hợp (gồm SWOT), và phương pháp định lượng (FGLS) để kiểm định mô hình. Điểm mới của luận án là kết hợp phân tích thực trạng và đánh giá thực nghiệm tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế ĐBSCL, tập trung vào thực trạng quản lý đầu tư công và gắn kết đầu tư công với những đặc thù của vùng, đặc biệt là ứng phó với biến đổi khí hậu.

Về cơ sở lý luận, luận án trình bày các khái niệm chính về tăng trưởng kinh tế và đầu tư công. Tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia, biểu hiện qua quy mô và tốc độ tăng trưởng. Đầu tư công được định nghĩa là hoạt động đầu tư của nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và các dự án phục vụ lợi ích chung, không nhằm mục đích kinh doanh. Nguồn vốn đầu tư công bao gồm ngân sách nhà nước (NSNN), vốn tín dụng nhà nước, và vốn Hỗ trợ Phát triển Chính thức (ODA). Đối tượng đầu tư công đa dạng, từ hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội đến môi trường, quốc phòng, an ninh. Các đặc điểm nổi bật của đầu tư công là tạo ra hàng hóa công cộng, chủ yếu từ vốn NSNN, là khoản chi tích lũy làm gia tăng tài sản cố định, quy mô và cơ cấu phụ thuộc vào chiến lược phát triển và mức độ phát triển của khu vực tư nhân, và cần gắn chặt với chi thường xuyên để nâng cao hiệu quả. Vai trò của đầu tư công được nhấn mạnh ở việc thúc đẩy công nghiệp hóa, định hình hạ tầng, gia tăng tổng cầu và tổng cung, đóng vai trò “đầu tư mồi” và tạo việc làm. Hiệu quả đầu tư công được đánh giá thông qua chỉ số ICOR (Incremental Capital-Output Ratio), phản ánh lượng vốn cần để tạo ra một đơn vị GDP, với ICOR càng thấp thì hiệu quả càng cao. Luận án cũng phân tích khung lý thuyết về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế, bao gồm các quan điểm ủng hộ thị trường tự do và quan điểm ủng hộ sự can thiệp của nhà nước, cũng như mối quan hệ phức tạp giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân (hiệu ứng lấn át hoặc thúc đẩy). Mô hình Le & Suruga (2005) được chọn làm nền tảng lý thuyết cho phần kiểm định thực nghiệm, do khả năng giải thích tác động của đầu tư công, chi thường xuyên, thuế suất và FDI đến tăng trưởng kinh tế. Về quản lý đầu tư công, luận án xem xét các vấn đề lý thuyết liên quan đến việc đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của đầu tư công thông qua một hệ thống tổng thể từ định hướng, thẩm định, lựa chọn, lập ngân sách, thực thi và đánh giá dự án.

Phân tích thực trạng kinh tế vùng ĐBSCL trong giai đoạn 2001-2014 cho thấy vùng đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng gia tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, phát triển mạnh nông nghiệp (đặc biệt là lúa gạo, thủy sản), và thu hút nhiều nguồn lực đầu tư. Tuy nhiên, so với các vùng lân cận như TP.HCM và Đông Nam Bộ, tỷ trọng đóng góp GDP của ĐBSCL vào tổng GDP cả nước chưa có sự thay đổi rõ rệt, cho thấy sự phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Tình hình đầu tư công tại ĐBSCL cũng có nhiều bất cập: vốn đầu tư công còn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư phát triển, chưa hợp lý và chưa phát huy được nguồn vốn từ khu vực kinh tế tư nhân. Đầu tư còn dàn trải, thiếu tập trung, và cơ cấu đầu tư công chưa phù hợp (ví dụ, mặc dù nông nghiệp là thế mạnh, nhiều địa phương lại định hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ mà thiếu sự liên kết vùng). Tình trạng này dẫn đến nhiều dự án chậm tiến độ, không phát huy hiệu quả, thậm chí gây lãng phí và ảnh hưởng đến đời sống người dân. Phân tích thực nghiệm bằng phương pháp FGLS trên dữ liệu của 13 tỉnh/thành ĐBSCL giai đoạn 2001-2014 đã khẳng định rằng đầu tư công chưa cho thấy tác động tích cực có ý nghĩa đến tăng trưởng kinh tế của vùng. Ngược lại, kết quả kiểm định còn chỉ ra rằng đầu tư công có hiệu ứng “chèn lấn” đối với đầu tư nước ngoài (FDI), làm giảm tác động tích cực của FDI đến tăng trưởng kinh tế vùng. Điều này củng cố thêm nhận định về sự thiếu hiệu quả trong việc sử dụng vốn đầu tư công ở ĐBSCL.

Từ kết quả phân tích thực trạng và thực nghiệm, luận án đi sâu vào phân tích cơ chế và thực trạng quản lý đầu tư công tại ĐBSCL, nhấn mạnh rằng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công còn rất thấp. Chu trình dự án đầu tư công, dù là từ vốn ODA hay vốn nhà nước, đều trải qua các giai đoạn xác định, chuẩn bị, thẩm định, thực hiện và đánh giá. Tuy nhiên, thực tế quản lý đầu tư công tại ĐBSCL bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng. Về định hướng đầu tư, các chiến lược phát triển thường chỉ tập trung vào lĩnh vực kinh tế mà ít quan tâm đến môi trường và an sinh xã hội, thiếu bộ tiêu chí chính thức để ưu tiên dự án, dẫn đến đầu tư dàn trải, chồng chéo. Sự điều phối lỏng lẻo giữa trung ương và địa phương, cũng như giữa các địa phương trong vùng, khiến các tỉnh “chạy đua” xây dựng các khu công nghiệp, chợ đầu mối tương tự nhau, gây lãng phí và chậm phát huy hiệu quả. Về thẩm định và lựa chọn dự án, năng lực của các cơ quan thẩm định còn hạn chế, dễ bị ảnh hưởng bởi yếu tố chính trị, và áp lực thời gian khiến việc thẩm định thường sơ sài. Việc áp dụng phân tích chi phí – lợi ích (CBA) còn thiếu quy định cụ thể và hệ thống chỉ tiêu thống nhất, dẫn đến đánh giá thiếu chính xác. Thiếu hội đồng thẩm định độc lập cũng là một vấn đề. Về triển khai dự án, các vấn đề từ khâu chuẩn bị kém chất lượng dẫn đến dự án bị kéo dài, đội vốn và chất lượng công trình thấp. Công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan dân cử còn rất hạn chế do thiếu nguồn lực và động cơ. Sau khi hoàn thành, số lượng dự án được kiểm toán hàng năm rất ít, chỉ phát hiện được phần nhỏ các sai phạm. Đối với các dự án ODA, mâu thuẫn về quy trình với đối tác quốc tế, thiếu sự điều phối hài hòa với các nguồn vốn trong nước, và năng lực cán bộ yếu kém đã cản trở hiệu quả. Để khắc phục, luận án đề xuất một số ý tưởng và hàm ý chính sách như thay đổi quan điểm về đầu tư công (chỉ đầu tư vào những công trình công cộng mà tư nhân không thể/không muốn đầu tư), ưu tiên phát triển nông nghiệp bền vững (hệ thống thủy lợi, giống cây trồng chịu mặn, công nghệ sinh học), xây dựng đồng bộ hệ thống giao thông vận tải (đường bộ, đường thủy, hàng không), hiện đại hóa hệ thống thông tin liên lạc, phát triển công nghiệp năng lượng và cơ khí nông nghiệp, mở rộng du lịch và dịch vụ, đầu tư phát triển giáo dục-đào tạo, hiện đại hóa mạng lưới bảo vệ sức khỏe, và xây dựng các công trình văn hóa, thể dục thể thao. Ngoài ra, cần đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường liên kết vùng, và nâng cao hiệu lực thanh tra, kiểm tra đầu tư công.

Tác Động Đầu Tư Công Đến Tăng Trưởng Kinh Tế Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
Tác Động Đầu Tư Công Đến Tăng Trưởng Kinh Tế Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long