1. Thông tin Luận văn thạc sĩ
- Tên Luận văn: PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CHUYỂN NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRƯỜNG HỢP TỈNH ĐỒNG NAI
- Tác giả: NGUYỄN THÀNH TIẾN
- Số trang: 62
- Năm: 2017
- Nơi xuất bản: TP.Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành học: Chính sách công
- Từ khoá: chuyển nguồn ngân sách, ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương, Đồng Nai, bền vững tài khóa, minh bạch tài khóa, kỷ luật tài khóa.
2. Nội dung chính
Luận văn “Phân tích Chính sách Chuyển nguồn Ngân sách Nhà nước Trường hợp tỉnh Đồng Nai” của Nguyễn Thành Tiến tập trung nghiên cứu sâu sắc về những bất cập và hệ lụy của chính sách chuyển nguồn ngân sách địa phương (NSĐP) tại tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015. Mặc dù Luật Ngân sách nhà nước (NSNN) 2002 đã tăng cường phân cấp cho địa phương, công tác điều hành ngân sách tại Đồng Nai vẫn thiếu chủ động, đặc biệt trong việc điều chuyển nguồn giữa các nhiệm vụ chi. Vấn đề cốt lõi nằm ở cơ chế chuyển nguồn NSNN qua các năm, với số dư chuyển nguồn bình quân hàng năm chiếm trên 17% tổng chi NSĐP. Điều này dẫn đến tình trạng nghịch lý khi địa phương vẫn phải đi vay để tài trợ cho các nhiệm vụ đầu tư ưu tiên cấp bách, trong khi một phần lớn nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí lại bị “đóng băng” trong các nhiệm vụ không thực hiện được hoặc phải chuyển sang năm sau. Luận văn đặt mục tiêu chứng minh rằng chính sách chuyển nguồn hiện hành không chỉ mang tính thủ tục kỹ thuật, làm suy giảm khả năng cân đối, tính bền vững, độ minh bạch và kỷ luật tài khóa của NSĐP, mà còn đề xuất các giải pháp khả thi để hoàn thiện chính sách này. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các khoản thu chi trong cân đối theo phân cấp NSĐP tỉnh Đồng Nai, bao gồm chuyển nguồn chi đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB), chi hoạt động thường xuyên, chi cải cách tiền lương và chi trích các quỹ từ nguồn thu tiền sử dụng đất.
Luận văn đã xây dựng một cơ sở lý thuyết vững chắc về các khái niệm ngân sách bền vững, kỷ luật và minh bạch tài khóa, đồng thời tổng quan các nghiên cứu trước đây của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Các tổ chức quốc tế này đều khuyến nghị hạn chế chuyển nguồn, đặc biệt đối với chi thường xuyên, và yêu cầu kiểm soát chặt chẽ hơn để nâng cao minh bạch và linh hoạt ngân sách. Thực trạng tại Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 cho thấy bức tranh thu chi NSĐP bị méo mó nghiêm trọng do chuyển nguồn. Các báo cáo tài khóa thường niên chỉ ra rằng tổng chi cân đối NSĐP luôn vượt dự toán khoảng 25%. Tuy nhiên, khi loại trừ yếu tố chuyển nguồn, số thực chi từ dự toán của năm chỉ đạt khoảng 86%-96% dự toán được giao. Tình trạng này làm giảm độ tin cậy của các báo cáo, ảnh hưởng đến khả năng dự báo và kiểm soát nguồn thu chi của địa phương. Hơn nữa, việc chuyển nguồn còn làm sai lệch cơ cấu chi NSĐP, với chi chuyển nguồn chiếm tỷ trọng lớn (bình quân 17%), khiến tỷ trọng thực tế của chi đầu tư và chi thường xuyên trong tổng thể quyết toán bị giảm sút.
Chi tiết hơn về cơ cấu chuyển nguồn, luận văn phân tích bốn loại chính. Thứ nhất, chuyển nguồn chi đầu tư XDCB chiếm bình quân 24% tổng chuyển nguồn, phản ánh kỷ luật tài khóa kém. Việc tạm ứng vốn để bồi thường, giải phóng mặt bằng kéo dài, cùng với sự ỷ lại của chủ đầu tư và nhà thầu vào cơ chế chuyển nguồn, dẫn đến các dự án thường xuyên vượt thời gian và đội chi phí. Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn: ngân sách bố trí vốn ban đầu không đủ, tạm ứng không đủ khối lượng để thanh toán, dẫn đến treo nguồn tạm ứng và phải bổ sung, điều chỉnh dự toán, rồi lại tiếp tục chuyển nguồn. Thứ hai, chuyển nguồn trích các quỹ từ nguồn thu tiền sử dụng đất, dù Đồng Nai có nguồn thu đất đai dồi dào, việc trích bổ sung quỹ phát triển nhà và đất (khoảng 8% quỹ nhà và 16% quỹ đất) đã tạo ra nguồn vốn nhàn rỗi lớn nhưng lại được quản lý ngoài cân đối ngân sách và hoạt động theo cơ chế cho vay, ứng vốn, rồi lại được hoàn trả từ NSĐP. Điều này dẫn đến sự thiếu minh bạch và lãng phí nguồn lực. Thứ ba, chuyển nguồn chi hoạt động thường xuyên, dù chiếm tỷ trọng nhỏ (khoảng 11%), cũng ảnh hưởng đến kỷ luật ngân sách, với các trường hợp sử dụng sai mục đích hoặc không kịp giải ngân do giao dự toán bổ sung vào cuối năm. Cuối cùng và đặc biệt quan trọng, chuyển nguồn chi cải cách tiền lương còn dư. Theo quy định, 50% vượt thu NSĐP được ưu tiên bổ sung cho cải cách tiền lương và không được sử dụng cho mục đích khác. Tuy nhiên, nhu cầu tăng lương thực tế thấp hơn nguồn đảm bảo, khiến một lượng lớn tiền nhàn rỗi bị tích lũy qua các năm. Điều này mâu thuẫn với “nguyên tắc vàng” của cân đối ngân sách (chi thường xuyên < thu, tích lũy cho đầu tư) và làm giảm tính chủ động của địa phương trong việc sử dụng nguồn lực để đầu tư phát triển hạ tầng, khoa học công nghệ, trong khi lại phải đi vay để đáp ứng nhu cầu cấp bách.
Từ những phân tích trên, luận văn đưa ra các kết luận và khuyến nghị chính sách toàn diện. Về kết luận, việc chuyển nguồn gây ra sự thiếu chính xác, minh bạch, nhất quán của các báo cáo ngân sách, làm suy yếu kỷ luật tài khóa, và tạo ra sự kém hiệu quả trong phân bổ nguồn lực. Cụ thể, nó gây ra tình trạng đình trệ, đội vốn trong đầu tư XDCB; quản lý thiếu minh bạch đối với các quỹ tài chính công; và lãng phí nguồn lực lớn từ quỹ cải cách tiền lương. Các khuyến nghị chính sách được đề xuất cho cả chính quyền Trung ương và địa phương. Đối với Trung ương, cần quy định rõ ràng về cách thể hiện chuyển nguồn trong báo cáo tài khóa để tăng tính minh bạch, tăng cường kỷ luật lập và giao dự toán thu, quy định chặt chẽ hơn về các nội dung chi từ nguồn thu nhà đất, và bổ sung thể chế ràng buộc về tiến độ và chi phí các dự án đầu tư công. Đối với chính quyền địa phương, cần quy định thời hạn tối đa và hạn mức định lượng cho chuyển nguồn chi thường xuyên, siết chặt quản lý chuyển nguồn chi XDCB, cho phép linh hoạt sử dụng các nguồn thu từ đất vào chi đầu tư phát triển, và xây dựng dự toán nhu cầu cải cách tiền lương phù hợp thực tế, đồng thời kiến nghị Trung ương cho phép bổ sung dự toán chi đầu tư phát triển đối với nguồn cải cách tiền lương dôi dư. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc siết chặt kỷ luật ngân sách trong khâu lập và chấp hành dự toán để đảm bảo cân đối, bền vững, và hiệu quả trong quản lý NSNN.

