1. Thông tin Luận văn thạc sĩ
- Tên Luận văn: Nghiên cứu nghèo theo cách tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Duyên Hải – tỉnh Trà Vinh
- Tác giả: Thái Thị Mỹ Dung
- Số trang: 136
- Năm: 2017
- Nơi xuất bản: Thành phố Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành học: Quản lý Kinh tế
- Từ khoá: Nghèo đa chiều, Chỉ số nghèo đa chiều (MPI), Duyên Hải (Trà Vinh), Chính sách giảm nghèo, Yếu tố tương quan đến nghèo.
2. Nội dung chính
Luận văn “Nghiên cứu nghèo theo cách tiếp cận đa chiều trên địa bàn huyện Duyên Hải – tỉnh Trà Vinh” của Thái Thị Mỹ Dung được thực hiện trong bối cảnh đói nghèo vẫn là một thách thức toàn cầu, đặc biệt tại các nước đang phát triển như Việt Nam. Bài viết nhấn mạnh sự hạn chế của phương pháp đo lường nghèo truyền thống chỉ dựa trên thu nhập hoặc chi tiêu, vốn đã bỏ sót nhiều đối tượng và chưa phản ánh đầy đủ thực trạng thiếu hụt đa chiều trong giáo dục, y tế và chất lượng cuộc sống. Sự ra đời của Chỉ số nghèo khổ đa chiều (MPI) do Alkire và Foster đề xuất, được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) áp dụng từ năm 2010, đã cung cấp một khung phân tích toàn diện hơn. Tại Việt Nam, phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều cũng đã được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội nghiên cứu và áp dụng từ giai đoạn 2016-2020, thay thế cho chuẩn nghèo đơn chiều. Huyện Duyên Hải, một địa phương có tỷ lệ hộ nghèo cao và chịu tác động lớn từ việc điều chỉnh địa giới hành chính, đối mặt với thực trạng nghèo khó khăn hơn so với con số ban đầu. Do đó, mục tiêu chính của luận văn là xác định các thước đo đánh giá nghèo đa chiều, nhận diện các yếu tố tương quan đến nghèo đa chiều trên địa bàn huyện, từ đó đưa ra các hàm ý chính sách phù hợp để giảm nghèo. Nghiên cứu sử dụng khung phân tích của Alkire và Santos (2010) với ba chiều chính là y tế, giáo dục và mức sống, được đo lường bằng 10 chỉ số cụ thể, kết hợp với thống kê mô tả và các kiểm định thống kê như Chi bình phương và T-test.
Trong khuôn khổ nghiên cứu, luận văn đã xây dựng khung đo lường nghèo đa chiều dựa trên 3 chiều chính: Giáo dục, Y tế và Mức sống, với tổng cộng 10 chỉ số thành phần, mỗi chỉ số đều có trọng số nhất định. Cụ thể, chiều Giáo dục bao gồm hai chỉ số: số năm đi học (đảm bảo hoàn tất 5 năm tiểu học) và tình trạng đi học của trẻ em (không có trẻ em độ tuổi 1-8 bỏ học). Chiều Y tế cũng có hai chỉ số: tỷ lệ tử vong trẻ em và tình trạng dinh dưỡng của hộ gia đình (không có trẻ em/người lớn suy dinh dưỡng). Chiều Mức sống được đánh giá bằng sáu chỉ số: tiếp cận điện, vệ sinh (toilet hợp vệ sinh), nước sạch, chất lượng nhà ở (nhà kiên cố), nhiên liệu đun nấu (không dùng củi, than củi), và sở hữu tài sản (nhiều hơn 1 trong số Radio, Tivi, điện thoại, xe đạp, xe máy, thuyền có động cơ). Một hộ gia đình được coi là nghèo đa chiều nếu tổng điểm thiếu hụt các chỉ số đạt từ 1/3 trở lên. Kết quả phân tích từ mẫu điều tra 240 hộ tại huyện Duyên Hải cho thấy, tỷ lệ hộ nghèo theo cách tiếp cận đa chiều là 77,1%, cao hơn đáng kể so với tỷ lệ 50% theo cách tiếp cận đơn chiều ban đầu. Sự chênh lệch này không chỉ do 120 hộ nghèo đơn chiều tiếp tục là nghèo đa chiều, mà còn có thêm 65 hộ “khác nghèo” đơn chiều bị xếp vào diện nghèo đa chiều. Nghiên cứu cũng chỉ ra độ sâu của nghèo trên địa bàn huyện là 48%, nghĩa là một người nghèo trung bình bị thiếu hụt 48% các chỉ tiêu. Chỉ số MPI tổng thể là 37,3%, cho thấy mức độ thiếu hụt tổng hợp về giáo dục, y tế và mức sống trong cộng đồng.
Luận văn đã nhận diện các yếu tố có tương quan đáng kể đến tình trạng nghèo đa chiều trên địa bàn huyện Duyên Hải, bao gồm giới tính chủ hộ, dân tộc, nghề nghiệp, trình độ học vấn và số người phụ thuộc trong hộ gia đình, tất cả đều có ý nghĩa thống kê ở mức tin cậy 99%. Cụ thể, các hộ có chủ hộ là nữ thường có khả năng rơi vào nghèo đa chiều cao hơn đáng kể so với hộ có chủ hộ là nam giới, với tỷ lệ hộ nghèo đa chiều có chủ hộ là nữ lên đến 90,91%. Về dân tộc, các hộ dân tộc Khmer có xu hướng nghèo đa chiều cao hơn nhiều so với hộ dân tộc Kinh, với 85,29% hộ dân tộc Khmer trong mẫu khảo sát thuộc diện nghèo đa chiều. Về nghề nghiệp, các hộ có chủ hộ làm nghề nông nghiệp hoặc làm thuê dễ rơi vào nghèo đa chiều hơn so với công chức hay buôn bán kinh doanh. Trình độ học vấn thấp của chủ hộ cũng là một yếu tố quan trọng, khi chủ hộ có trình độ học vấn trung bình thấp hơn thì khả năng nghèo đa chiều càng cao. Cuối cùng, số người phụ thuộc càng nhiều thì nguy cơ hộ gia đình rơi vào cảnh nghèo đa chiều càng lớn. Ngược lại, các yếu tố như việc vay vốn từ các định chế tín dụng chính thức, quy mô nhân khẩu và diện tích đất sản xuất của hộ lại không cho thấy tương quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng nghèo đa chiều trong nghiên cứu này.
Từ những kết quả phân tích trên, luận văn đề xuất một loạt các hàm ý chính sách giảm nghèo mang tính đồng bộ và toàn diện nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Duyên Hải. Đối với lĩnh vực giáo dục, cần tập trung hỗ trợ chi phí học tập, dụng cụ học tập, học bổng và miễn giảm học phí cho trẻ em nghèo, đồng thời tăng cường tuyên truyền, vận động trẻ em đến trường đúng độ tuổi và hạn chế bỏ học giữa chừng. Trong lĩnh vực y tế, các chính sách cần hướng đến việc giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em thông qua hỗ trợ dinh dưỡng (sữa, bột dinh dưỡng), tiêm chủng đầy đủ, khám thai định kỳ, giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản và phòng tránh tai nạn. Về nâng cao chất lượng cuộc sống, các chính sách liên quan đến điện, nước sạch và nhà ở cần được ưu tiên, bao gồm hỗ trợ kéo điện, nước sạch miễn phí hoặc với chi phí thấp, cho vay vốn xây nhà ở kiên cố và cung cấp các phương tiện vệ sinh cơ bản. Ngoài ra, việc tăng cường thu nhập và tạo việc làm bền vững là trọng tâm, thông qua đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, hỗ trợ vốn vay sản xuất, chuyển giao khoa học kỹ thuật, phát triển làng nghề và tìm đầu ra cho sản phẩm nông thủy sản địa phương. Luận văn cũng thừa nhận những hạn chế về quy mô mẫu và phương pháp phân tích (chưa sử dụng mô hình kinh tế lượng), gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo để có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều.

