1. Thông tin Luận văn thạc sĩ
- Tên Luận văn: Khả năng tổn thương và sinh kế của ngư dân huyện đảo Kiên Hải trong điều kiện biến đổi khí hậu
- Tác giả: Nguyễn Hoàng Điểm
- Số trang: 99
- Năm: 2017
- Nơi xuất bản: TP. Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành học: Quản lý kinh tế
- Từ khoá: Khả năng tổn thương, Sinh kế, Ngư dân, Kiên Hải, Biến đổi khí hậu (BĐKH), Thích ứng
2. Nội dung chính
Luận văn đã đi sâu nghiên cứu về khả năng tổn thương và tình hình sinh kế của ngư dân huyện đảo Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra ngày càng phức tạp và khó lường. Đề tài mở đầu bằng việc chỉ ra tầm quan trọng của việc cải thiện sinh kế và giảm thiểu tổn thương cho cộng đồng dân cư, đặc biệt là tại các vùng biển đảo nơi đời sống người dân phụ thuộc sâu sắc vào tài nguyên thiên nhiên và dễ bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, giông tố, lốc xoáy, lũ lụt, nắng nóng kéo dài, xâm nhập mặn và nước biển dâng. Huyện đảo Kiên Hải, với 23 hòn đảo lớn nhỏ và dân số hơn 21.000 người, chủ yếu sống bằng các ngành nghề liên quan đến biển như đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản, cùng với một phần nông nghiệp, thương mại và du lịch. Tuy nhiên, ngư dân nơi đây luôn đối mặt với nhiều yếu tố bất lợi và khả năng tổn thương cao, từ hệ thống tàu thuyền thô sơ, lao động phổ thông chưa qua đào tạo đến hạ tầng yếu kém và biến động giá cả thủy hải sản. Nghiên cứu này đặt mục tiêu phân tích thực trạng BĐKH, đánh giá tác động lên các nguồn lực sinh kế và khả năng thích ứng của ngư dân, từ đó đề xuất các giải pháp và chính sách nhằm giảm thiểu rủi ro, tổn thương và hướng đến phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng tại khu vực này. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong giai đoạn 2006-2015, tập trung vào 4 xã của huyện Kiên Hải với dữ liệu được thu thập từ 160 hộ dân.
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận văn đã sử dụng khung lý thuyết sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) làm nền tảng phân tích. Khung này giúp đánh giá tác động qua lại của năm nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế hộ gia đình, bao gồm nguồn lực sinh kế (vốn con người, vật chất, tài chính, xã hội, tự nhiên). Khái niệm về Lý thuyết Nguồn lực (Resource-Based View – RBV) cũng hỗ trợ trong việc phân tích các yếu tố này. Khái niệm “khả năng tổn thương” được hiểu theo định nghĩa của IPCC là mức độ mà một hệ thống bị tổn hại hoặc không có khả năng đối phó với tác động có hại của BĐKH, trong đó tổn thương sinh kế được đặc trưng là sự “không đảm bảo” khi đối mặt với những thay đổi bên ngoài. Về phương pháp nghiên cứu, tác giả đã áp dụng phương pháp thống kê mô tả (SPSS) để phân tích dữ liệu điều tra, khảo sát từ 160 hộ dân thông qua phiếu phỏng vấn trực tiếp, kết hợp với phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA) và phỏng vấn cán bộ địa phương để thu thập thông tin định tính. Để hiểu rõ hơn về cách thu thập các loại thông tin này, bạn có thể tham khảo thêm về phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và phân loại dữ liệu định tính và định lượng. Quy trình phân tích bao gồm bốn bước chính: tổng quan về BĐKH tại khu vực, phân tích các nguồn lực sinh kế và khả năng tổn thương, đánh giá năng lực thích ứng của ngư dân, và đề xuất hàm ý chính sách. Cách tiếp cận này đảm bảo sự toàn diện trong việc đánh giá thực trạng và đưa ra các khuyến nghị phù hợp.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, thực trạng BĐKH tại huyện đảo Kiên Hải có xu hướng gia tăng đáng kể, đặc biệt là các hiện tượng mưa giông bất thường, nắng nóng kéo dài và hạn hán, ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến các hoạt động sản xuất của người dân. Trong đó, ngành khai thác thủy sản chịu tác động mạnh mẽ nhất do là sinh kế chính của gần 70% ngư dân. Biến đổi khí hậu làm giảm năng suất cây trồng, gây thiếu nước tưới, tăng sâu bệnh trong nông nghiệp; làm vật nuôi thủy sản chậm lớn, tăng dịch bệnh, ô nhiễm nguồn nước và hư hỏng lồng bè trong nuôi trồng; đồng thời làm giảm sản lượng khai thác, thay đổi vùng đánh bắt, tăng thời gian nghỉ biển và chi phí cho ngành khai thác thủy sản. Đáng chú ý, các nguồn lực sinh kế của ngư dân Kiên Hải đang bộc lộ nhiều điểm yếu khiến họ dễ bị tổn thương: vốn con người hạn chế về trình độ và kỹ năng, việc làm không ổn định, tỷ lệ lao động phụ thuộc cao; vốn vật chất thô sơ (tàu thuyền nhỏ, nhà ở tạm bợ); vốn tài chính thấp, thu nhập không ổn định, ít tiết kiệm và nợ vay lớn; vốn tự nhiên ngày càng suy giảm (đất sản xuất thu hẹp, nguồn lợi thủy sản cạn kiệt); và vốn xã hội, dù đa dạng, vẫn chưa đủ để ứng phó hiệu quả với BĐKH. Hơn 98% hộ dân khảo sát cho rằng họ chịu tổn thương do BĐKH, với mức độ khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và phương tiện sản xuất, đặc biệt là những hộ nghèo và hộ có phương tiện nhỏ.
Mặc dù năng lực thích ứng của người dân huyện đảo được đánh giá là khá tốt với nhận thức cao về BĐKH, thể hiện qua việc tích cực tìm kiếm thông tin và tự điều chỉnh các hoạt động sản xuất như thay đổi lịch thời vụ, cơ cấu cây trồng/vật nuôi, đầu tư hệ thống tưới tiêu, hay gia cố nhà cửa và phương tiện. Tuy nhiên, các hoạt động thích ứng này chủ yếu mang tính tự phát và đối phó, chưa có kế hoạch đồng bộ và dài hạn. Nhiều hộ dân phải đối mặt với khó khăn lớn về vốn đầu tư để thực hiện các giải pháp thích ứng, dẫn đến việc thiếu bền vững và tiếp tục dễ bị tổn thương trước các diễn biến ngày càng phức tạp của thời tiết. Từ những phát hiện này, luận văn đưa ra nhiều hàm ý chính sách quan trọng. Đầu tiên là chính sách tuyên truyền, hướng dẫn ngư dân chủ động thích ứng với BĐKH. Kế đến là nhóm chính sách hỗ trợ nhằm cải thiện toàn diện các nguồn lực sinh kế: nâng cao chất lượng vốn con người thông qua giáo dục, đào tạo nghề và mạng lưới an sinh xã hội; quản lý hiệu quả vốn tự nhiên bằng cách giao khoán đất rừng, mặt nước biển và phân vùng đánh bắt; đầu tư vốn vật chất vào cơ sở hạ tầng thiết yếu như đê kè, hồ chứa nước ngọt và khuyến khích nâng cấp phương tiện sản xuất, nhà ở; tạo điều kiện tiếp cận vốn tài chính ưu đãi và khuyến khích tiết kiệm; cũng như phát huy vai trò của vốn xã hội trong việc hỗ trợ và chia sẻ kinh nghiệm. Cuối cùng, luận văn nhấn mạnh sự cần thiết của các biện pháp hỗ trợ thể chế, chính sách lồng ghép ứng phó BĐKH vào quy hoạch phát triển địa phương, đồng thời đề xuất các định hướng sinh kế bền vững như đa dạng hóa nguồn thu nhập (dịch vụ, du lịch, chế biến). Điều này đặc biệt cần thiết cho phát triển du lịch bền vững trong bối cảnh BĐKH, chú trọng đào tạo nhân lực, bảo hiểm rủi ro, và chuyển đổi mô hình đánh bắt xa bờ hoặc phát triển kinh tế rừng.

