1. Thông tin Luận văn thạc sĩ
- Tên Luận văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người nghèo thành phố Rạch Giá
- Tác giả: Huỳnh Tất Hải
- Số trang: 73
- Năm: 2017
- Nơi xuất bản: TP. Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành học: Quản lý kinh tế
- Từ khoá: Hộ nghèo, thu nhập, tín dụng chính sách, yếu tố ảnh hưởng, Rạch Giá, Kiên Giang, giảm nghèo, hồi quy OLS
2. Nội dung chính
Luận văn “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người nghèo thành phố Rạch Giá” của tác giả Huỳnh Tất Hải tập trung nghiên cứu những nhân tố then chốt tác động đến mức thu nhập của các hộ nghèo tại trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Kiên Giang, từ đó đề xuất các kiến nghị chính sách nhằm cải thiện đời sống và hỗ trợ thoát nghèo bền vững. Thành phố Rạch Giá trong những năm qua đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác giảm nghèo, với tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 2,62% năm 2011 xuống còn 1,76% năm 2015, nhờ việc triển khai đa dạng các chương trình và chính sách hỗ trợ như cho vay vốn ưu đãi (506 tỷ đồng cho 9.278 lượt hộ nghèo và cận nghèo), hỗ trợ học tập (22 tỷ đồng cho học sinh, sinh viên), miễn giảm học phí (25 tỷ đồng), đào tạo nghề (2.076 lao động nghèo) và tạo việc làm (hơn 5.545 lao động). Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) tỉnh Kiên Giang đóng vai trò quan trọng trong việc đưa vốn tín dụng ưu đãi đến tay các đối tượng chính sách thông qua mạng lưới Tổ tiết kiệm và vay vốn, với tổng dư nợ ủy thác tại các phường xã và hội đoàn thể đạt gần 123 tỷ đồng, giúp 3.393 đối tượng chính sách (trong đó có 889 hộ nghèo) được vay vốn trong năm 2015. Tuy nhiên, sự thay đổi trong cách tiếp cận đo lường nghèo theo chuẩn đa chiều của Chính phủ (Quyết định 59/QĐ-TTg giai đoạn 2016-2020), bao gồm cả tiêu chí thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, đặt ra yêu cầu phải có cái nhìn sâu sắc hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo. Nghiên cứu này đặt mục tiêu xác định các yếu tố tác động tích cực đến thu nhập của hộ nghèo và đề xuất các chính sách cụ thể nhằm nâng cao mức sống cho họ, tập trung vào đối tượng hộ nghèo có vay vốn từ NHCSXH tại Rạch Giá trong năm 2015, sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích thống kê và hồi quy OLS trên phần mềm Excel và SPSS.
Cơ sở lý thuyết của luận văn được xây dựng dựa trên các khái niệm về tín dụng, tín dụng chính sách, hộ gia đình, hộ nghèo và thu nhập. Tín dụng chính sách được định nghĩa là việc Nhà nước huy động và cho vay vốn với các ưu đãi đặc thù (lãi suất, thủ tục, xử lý rủi ro) cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống và góp phần giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội. Theo Tổng cục Thống kê, thu nhập của hộ bao gồm tiền lương, thu nhập từ sản xuất nông lâm thủy hải sản và các ngành nghề phi nông nghiệp (sau khi trừ chi phí), cùng các khoản thu khác như cho biếu, lãi suất tiết kiệm. Đặc biệt, khái niệm hộ nghèo được nghiên cứu theo chuẩn đa chiều của Việt Nam, áp dụng từ 2016-2020, bao gồm tiêu chí về thu nhập (dưới 700.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở thành thị) và mức độ thiếu hụt tiếp cận 5 dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin) với 10 chỉ số cụ thể. Vai trò của tín dụng chính sách được nhấn mạnh trong việc hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh cho hộ nghèo, cung cấp vốn kịp thời để các hộ phát triển nông – lâm – ngư nghiệp, làm tăng thu nhập, cải thiện mức sống, giải quyết việc làm nhàn rỗi và kích cầu thị trường yếu tố đầu vào của khu vực nông nghiệp. NHCSXH Rạch Giá đã cho vay tổng cộng 128 tỷ đồng tính đến cuối năm 2016, trong đó cho vay hộ nghèo chiếm 8,6% (11 tỷ đồng), hỗ trợ sinh viên, giải quyết việc làm, xây dựng nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, cùng nhiều chương trình khác, giúp hàng nghìn hộ thoát nghèo và tạo việc làm. Mối quan hệ giữa tín dụng và thu nhập của hộ nghèo đã được nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước chứng minh là có tác động tích cực, giúp hộ nghèo đưa ra các quyết định tối ưu cho hoạt động sản xuất, vượt qua thất bại thị trường và cải thiện phúc lợi.
Phương pháp nghiên cứu được thiết kế theo hai bước chính: nghiên cứu khám phá và phân tích dữ liệu. Bước khám phá bao gồm tổng hợp các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến tiếp cận tín dụng và tác động đến hộ nghèo để xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết. Bước phân tích dữ liệu sử dụng thông tin từ kết quả điều tra hộ nghèo năm 2015 và số liệu cho vay của NHCSXH thành phố Rạch Giá, được xử lý bằng Excel và phân tích định lượng bằng phần mềm SPSS, sử dụng phương pháp hồi quy OLS. Mô hình hồi quy tuyến tính logarit có dạng Ln(Y) = β0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 + β4X4 + β5X4 + β6ln(X6) + β7ln(X7) + ɛ, trong đó Y là thu nhập bình quân của hộ gia đình, và các biến độc lập bao gồm giới tính chủ hộ (X1), độ tuổi chủ hộ (X2), trình độ học vấn chủ hộ (X3), quy mô hộ gia đình (X4), tỷ lệ phụ thuộc (X5), tổng tài sản của hộ (X6) và mức tín dụng cho hộ nghèo (X7). Kết quả mô tả mẫu dữ liệu từ 203 hộ nghèo cho thấy phần lớn chủ hộ là nam giới (90,6%), độ tuổi trung bình 47, quy mô hộ trung bình 5 thành viên với tỷ lệ phụ thuộc khá cao (1,5). Trình độ học vấn của chủ hộ nhìn chung thấp (53,2% học hết cấp 1). Tổng tài sản trung bình của hộ là 60,562 triệu đồng, trong khi mức vay tín dụng trung bình là 13,184 triệu đồng. Thu nhập trung bình của các hộ khảo sát là 33,59 triệu đồng/năm. Các kiểm định sự khác biệt cho thấy trình độ học vấn của chủ hộ có ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập và các đặc điểm khác của hộ.
Phân tích hồi quy OLS cho thấy một số yếu tố có ý nghĩa thống kê trong việc tác động đến thu nhập của các hộ nghèo tại Rạch Giá. Thứ nhất, giới tính chủ hộ có tác động dương, khi chủ hộ là nam giới, thu nhập trung bình của hộ sẽ cao hơn 11,66% so với hộ có chủ hộ là nữ giới. Thứ hai, trình độ học vấn của chủ hộ cũng có tác động tích cực, mỗi năm học vấn tăng thêm của chủ hộ sẽ làm tăng thu nhập trung bình của hộ lên 1,95%. Điều này khẳng định tầm quan trọng của giáo dục trong việc nâng cao khả năng sản xuất và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn. Ngược lại, tỷ lệ phụ thuộc trong hộ gia đình có tác động tiêu cực đáng kể; khi tỷ lệ phụ thuộc tăng 1%, thu nhập của hộ gia đình giảm 10,82%, nhấn mạnh gánh nặng của số lượng thành viên không có khả năng tạo ra thu nhập. Thứ ba, tổng tài sản của hộ gia đình, mà chủ yếu là đất đai và tài sản phục vụ sản xuất, cũng có mối quan hệ thuận chiều với thu nhập; khi tổng tài sản tăng 1%, thu nhập của hộ tăng trung bình 0,2981%. Cuối cùng, mức tín dụng được cung cấp cho hộ nghèo đóng vai trò quan trọng; khi số tiền vay vốn tăng 1%, thu nhập của hộ gia đình tăng trung bình 0,2046%, cho thấy tín dụng chính sách đã phát huy hiệu quả trong việc hỗ trợ mở rộng sản xuất và cải thiện thu nhập. Các yếu tố như tuổi của chủ hộ và quy mô hộ gia đình không có ý nghĩa thống kê trong mô hình này. Các kiểm định thống kê khác như kiểm định Durbin-Watson, kiểm định phương sai thay đổi và kiểm định phân phối chuẩn phần dư đều cho thấy mô hình hồi quy là phù hợp và đáng tin cậy.
Từ những kết quả nghiên cứu này, luận văn đưa ra các hàm ý chính sách quan trọng. Đầu tiên, chính quyền các cấp cần đẩy mạnh công tác phổ biến kiến thức kế hoạch hóa gia đình, đặc biệt là ở các hộ nghèo dân tộc thiểu số, nhằm giảm tỷ lệ sinh con và qua đó giảm gánh nặng tỷ lệ phụ thuộc, cải thiện mức sống. Thứ hai, cần tiếp tục đầu tư vào nâng cao trình độ giáo dục và phát triển các loại hình đào tạo nghề tại địa phương. Các chương trình tư vấn, hỗ trợ sản xuất, chia sẻ kinh nghiệm làm ăn hiệu quả giữa các hộ nghèo cần được triển khai rộng rãi để giúp họ tăng thu nhập và tự thoát nghèo. Các hội, đoàn thể cũng cần thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo nghề để nâng cao cơ hội việc làm cho đối tượng trong độ tuổi lao động, góp phần giảm tỷ lệ phụ thuộc. Thứ ba, NHCSXH cần xem xét mở rộng hạn mức tín dụng ưu đãi cho các hộ nghèo tham gia hoạt động sản xuất. Mặc dù các khoản vay tín chấp có lợi thế về thủ tục, nhưng giá trị khoản vay nhỏ thường không đủ để đầu tư hiệu quả vào sản xuất, do đó cần có chính sách linh hoạt hơn về hạn mức để hộ nghèo có đủ vốn mở rộng sản xuất. Cuối cùng, NHCSXH cần tăng cường hỗ trợ hộ nghèo trong việc xây dựng phương án sản xuất khả thi và giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay đúng mục đích để đảm bảo hiệu quả tối đa. Luận văn cũng thừa nhận một số hạn chế, như việc sử dụng dữ liệu chéo năm 2015 có thể hạn chế tính khách quan và tổng quát hóa, cũng như chưa xem xét được nhiều yếu tố tác động khác. Tác giả đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể sử dụng dữ liệu bảng và mở rộng số lượng biến để có kết quả chính xác và thuyết phục hơn.

