1. Thông tin Luận văn thạc sĩ
- Tên Luận văn: PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TẠI KHU VỰC KINH TẾ DÂN DOANH – THỰC TIỄN TẠI CÀ MAU
- Tác giả: CAO MỘNG THÚY
- Số trang: 64
- Năm: 2017
- Nơi xuất bản: TP. HỒ CHÍ MINH
- Chuyên ngành học: Luật kinh tế
- Từ khoá: Pháp luật công đoàn, hoạt động công đoàn, khu vực kinh tế dân doanh, Cà Mau, quyền lợi người lao động, quan hệ lao động, thỏa ước lao động tập thể, đối thoại nơi làm việc.
2. Nội dung chính
Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật và thực tiễn hoạt động của tổ chức công đoàn (CĐ) tại khu vực kinh tế dân doanh, với trọng tâm là tỉnh Cà Mau, nhằm đánh giá hiệu quả việc thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động (NLĐ). Mở đầu, luận văn phân tích cơ sở pháp lý về hoạt động của CĐ, trong mối liên hệ với các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm Hiến pháp 2013, Luật Công đoàn 2012 và Bộ luật Lao động 2012. Công đoàn Việt Nam được xác định là tổ chức chính trị – xã hội, thành viên của hệ thống chính trị, có vai trò trung tâm trong việc đại diện, bảo vệ NLĐ, tham gia quản lý nhà nước, kinh tế – xã hội, tuyên truyền, giáo dục và phát triển đoàn viên. Trong quan hệ lao động tại khu vực kinh tế dân doanh, CĐ đóng vai trò then chốt trong đối thoại, thương lượng tập thể, ký kết thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT), giải quyết tranh chấp lao động (TCLĐ), tổ chức đình công, tham gia xây dựng các chế độ phúc lợi và thậm chí đại diện cho NLĐ ở nơi chưa thành lập CĐ. Luận văn cũng làm rõ mối quan hệ ba bên giữa Nhà nước, người sử dụng lao động (NSDLĐ) và NLĐ (thông qua CĐ), nhấn mạnh trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo hành lang pháp lý và điều kiện cho CĐ hoạt động, cũng như nghĩa vụ của NSDLĐ đối với tổ chức CĐ tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, qua phân tích, luận văn chỉ ra những điểm chưa tương thích giữa pháp luật Việt Nam và tiêu chuẩn lao động quốc tế, đặc biệt là quyền tự do hiệp hội, tài chính CĐ và quyền đình công, đặt ra nền tảng cho những bất cập thực tiễn.
Thực trạng áp dụng pháp luật về hoạt động CĐ tại khu vực kinh tế dân doanh ở Cà Mau cho thấy nhiều hạn chế và bất cập. Dù khu vực kinh tế dân doanh ở Cà Mau phát triển nhanh chóng, thu hút đông đảo NLĐ, nhưng hoạt động của CĐ cơ sở (CĐCS) vẫn chưa thực sự hiệu quả và tương xứng với kỳ vọng. Nhiều doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ né tránh việc thành lập CĐ, gây khó khăn cho việc phát triển đoàn viên. NSDLĐ thường ít tạo điều kiện thuận lợi, thậm chí gây khó dễ cho cán bộ CĐ hoạt động, không chấp hành đầy đủ các quy định về kinh phí CĐ, dẫn đến tình trạng CĐCS thiếu nguồn lực, hoạt động hình thức. Chất lượng đối thoại tại nơi làm việc và thương lượng, ký kết TƯLĐTT còn thấp, mang nặng tính hình thức, nội dung sao chép quy định pháp luật chứ chưa thực sự mang lại lợi ích cụ thể, vượt trội cho NLĐ. Vai trò của CĐ trong giải quyết TCLĐ, tổ chức đình công cũng còn mờ nhạt, thường bị NSDLĐ gây áp lực hoặc cán bộ CĐ thiếu bản lĩnh. Nguyên nhân của những hạn chế này được chỉ ra từ nhiều phía: từ chính sách quản lý nhà nước với chế tài chưa đủ răn đe và thiếu cơ chế bảo vệ cán bộ CĐ; từ NSDLĐ với tâm lý né tránh, gây khó khăn; và từ chính CĐ với đội ngũ cán bộ kiêm nhiệm, năng lực hạn chế, thiếu thời gian và động lực hoạt động, cũng như từ bản thân NLĐ thiếu hiểu biết pháp luật, dễ thay đổi nơi làm việc. Tình trạng này làm giảm niềm tin của NLĐ vào tổ chức CĐ, khiến họ chưa thực sự thiết tha gia nhập hoặc tham gia hoạt động CĐ.
Để nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật về hoạt động của tổ chức công đoàn trong khu vực kinh tế dân doanh, luận văn đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ. Về mặt pháp luật, cần sửa đổi, bổ sung Luật Công đoàn và Bộ luật Lao động để khắc phục những bất cập hiện hành, cụ thể hóa quy trình và trách nhiệm của NSDLĐ trong việc trích nộp kinh phí CĐ, làm rõ quy định về dịch vụ an toàn vệ sinh lao động. Đối với vấn đề đối thoại và TƯLĐTT, cần điều chỉnh pháp luật để phù hợp với yêu cầu hội nhập (cho phép nhiều tổ chức đại diện NLĐ), tinh gọn quy trình đối thoại nhưng vẫn đảm bảo tính thực chất, làm rõ mối liên hệ giữa đối thoại với thương lượng và giải quyết tranh chấp. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc hỗ trợ, thúc đẩy TƯLĐTT và giám sát thực hiện. Về tổ chức thực hiện, giải pháp trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ CĐ chuyên trách tại các doanh nghiệp lớn, phức tạp về quan hệ lao động, do CĐ cấp trên quản lý và trả lương. Cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của CĐ cấp trên trực tiếp cơ sở, tránh tình trạng “đóng hai vai” khi giải quyết đình công, và tăng cường năng lực cho CĐ trong thương lượng, ký kết TƯLĐTT thông qua đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, thành lập các đội ngũ chuyên gia hỗ trợ.
Ngoài ra, luận văn nhấn mạnh các giải pháp từ phía NSDLĐ và NLĐ. NSDLĐ cần nhận thức rõ hơn vai trò của CĐ trong việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, từ đó chủ động giải quyết vấn đề thu nhập, quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của NLĐ, thực hiện nghiêm túc các quy định của chính sách pháp luật lao động, tăng cường đối thoại chân thành và cung cấp điều kiện thuận lợi cho CĐCS hoạt động. Việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho NSDLĐ về giá trị thực của TƯLĐTT cũng hết sức cần thiết, tránh tình trạng ký kết hình thức. Đối với NLĐ, cần tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật lao động để họ hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó tham gia vào các hoạt động CĐ và giải quyết tranh chấp một cách đúng luật, giảm thiểu các cuộc đình công tự phát. Bản thân NLĐ cũng cần chủ động nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp để đáp ứng yêu cầu công việc. Tổng thể, việc thực hiện pháp luật về hoạt động CĐ đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa Nhà nước, CĐ và NSDLĐ, với mục tiêu chung là xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa, ổn định, góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và xã hội, đồng thời thực hiện trọn vẹn sứ mệnh bảo vệ quyền lợi chính đáng của NLĐ.

