Khuyến mãi đặc biệt
  • Giảm 10% phí tải tài liệu khi like và share website
  • Tặng 1 bộ slide thuyết trình khi tải tài liệu
  • Giảm 5% dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của Luận Văn A-Z
  • Giảm 2% dịch vụ viết thuê luận án tiến sĩ của Luận Văn A-Z

Phân Tích Các Yếu Tố Tác Động Đến Phân Bổ Ngân Sách Có Mục Tiêu Của Chính Quyền Trung Ương, Từ Đó Rút Ra Các Bài Học Kinh Nghiệm Cho Việt Nam

50.000 VNĐ

Luận văn nghiên cứu các yếu tố tác động đến phân bổ ngân sách có mục tiêu của chính quyền trung ương Việt Nam giai đoạn 2005-2014, so sánh với mô hình Trung Quốc để rút ra bài học. Ngân sách trung ương hỗ trợ các địa phương thu không đủ chi, nhưng quá trình phân bổ thiếu minh bạch, gây lãng phí và bất công. Nghiên cứu chỉ ra bốn yếu tố chính ảnh hưởng: hố cách tài khóa, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ dân tộc thiểu số và sự hiện diện của người địa phương có ảnh hưởng tại trung ương. Bài học quan trọng là cần hướng đến mục tiêu hiệu quả, ưu tiên các địa phương phát triển kinh tế tốt. Tác giả khuyến nghị thiết kế mô hình phân bổ ngân sách minh bạch, kết hợp điều kiện đầu vào và đầu ra để tăng hiệu quả và trách nhiệm giải trình.

1. Thông tin Luận văn thạc sĩ

  • Tên Luận văn: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÂN BỔ NGÂN SÁCH CÓ MỤC TIÊU CỦA CHÍNH QUYỀN TRUNG ƯƠNG, TỪ ĐÓ RÚT RA CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
  • Tác giả: THẠCH PHƯỚC HÙNG
  • Số trang: 63
  • Năm: 2017
  • Nơi xuất bản: TP. HỒ CHÍ MINH
  • Chuyên ngành học: Chính sách công
  • Từ khoá: phân bổ ngân sách có mục tiêu, ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, hố cách tài khóa, yếu tố chính trị, hiệu quả, công bằng, Việt Nam.

2. Nội dung chính

Bài nghiên cứu tập trung phân tích các yếu tố tác động đến quyết định phân bổ ngân sách có mục tiêu của chính quyền trung ương cho các địa phương tại Việt Nam trong giai đoạn 2005-2014, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất chính sách phù hợp. Bối cảnh nghiên cứu xuất phát từ thực trạng ngân sách là nguồn lực chính cho phát triển kinh tế – xã hội và cung cấp hàng hóa công, song nhiều địa phương lại thu không đủ chi, buộc phải dựa vào nguồn hỗ trợ từ trung ương. Tuy nhiên, hệ thống phân bổ ngân sách thiếu minh bạch và kém hiệu quả, dễ dẫn đến các tiêu cực như “chạy dự án”, “vận động hành lang”, gây ra tình trạng kém hiệu quả và thiếu công bằng trong việc sử dụng nguồn lực công. Các báo cáo của Bộ Tài chính cũng chỉ ra rằng chi bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho địa phương có xu hướng tăng nhanh, nhưng lại không có quy định đầy đủ, cụ thể về tiêu chí cho từng mục tiêu, tạo cơ chế “xin cho” và làm suy yếu vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương. Nghiên cứu này đặt ra mục tiêu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chi bổ sung có mục tiêu, đánh giá liệu các yếu tố này có hướng đến mục tiêu hiệu quả và công bằng hay không, và liệu chúng có thay đổi theo bối cảnh kinh tế chính trị xã hội của Việt Nam trong giai đoạn gần đây.

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã xây dựng khung lý thuyết dựa trên hai trường phái chính: lý thuyết liên bang và lý thuyết kinh tế chính trị. Theo lý thuyết liên bang, việc chuyển giao ngân sách liên chính quyền hướng đến các mục tiêu như cân bằng dọc (khắc phục hố cách tài khóa), cân bằng ngang (đảm bảo công bằng trong hưởng thụ hàng hóa công giữa các địa phương có điều kiện khác nhau) và nội hóa ngoại tác tích cực. Trong khi đó, quan điểm kinh tế chính trị cho rằng quyết định chuyển giao ngân sách còn chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các mục tiêu chính trị, như duy trì ổn định, bảo vệ chế độ, ban thưởng cho những vùng có tốc độ tăng trưởng cao, hoặc dựa trên sự thỏa hiệp chính trị, ảnh hưởng cá nhân của các chính trị gia. Việt Nam, với mô hình kinh tế – chính trị tương đồng Trung Quốc (nhà nước độc đảng, quyền lực tập trung), có thể chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố chính trị trong quá trình phân bổ ngân sách. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với mô hình kinh tế lượng dữ liệu bảng (mô hình hiệu ứng cố định – FEM) trên mẫu 46 tỉnh thành có thâm hụt ngân sách liên tục trong giai đoạn 2005-2014. Các giả thuyết nghiên cứu bao gồm ảnh hưởng của hố cách tài khóa, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ người dân tộc thiểu số, và các yếu tố chính trị như sự hiện diện và số lượng người địa phương có ảnh hưởng trong chính quyền trung ương.

Kết quả hồi quy từ mô hình nghiên cứu cho thấy có bốn yếu tố chính ảnh hưởng đáng kể đến quyết định phân bổ ngân sách có mục tiêu của chính quyền trung ương Việt Nam. Đầu tiên, hố cách tài khóa là một yếu tố quan trọng, tuy nhiên, tác động của nó thay đổi theo thời gian: trước giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu, hố cách tài khóa lớn hơn có xu hướng nhận được hỗ trợ có mục tiêu nhiều hơn (thiên về mục tiêu công bằng); nhưng sau khủng hoảng, mối quan hệ này đảo chiều, cho thấy chính quyền trung ương bắt đầu ưu tiên hiệu quả, hướng đến việc nuôi dưỡng nguồn thu và phân bổ cho các tỉnh có hoạt động kinh tế hiệu quả hơn. Thứ hai, thu nhập bình quân đầu người cao hơn cũng đồng nghĩa với việc nhận được ngân sách có mục tiêu nhiều hơn, điều này củng cố quan điểm chính quyền trung ương hướng đến mục tiêu hiệu quả. Thứ ba, tỷ lệ người dân tộc thiểu số cao hơn ở một địa phương cũng làm tăng khoản hỗ trợ có mục tiêu, cho thấy đây là một công cụ để duy trì ổn định chính trị, đặc biệt tại các vùng nhạy cảm. Cuối cùng, sự hiện diện của người địa phương có ảnh hưởng chính trị trong chính quyền trung ương cũng là một yếu tố có tác động đáng kể, cho thấy sự ảnh hưởng cá nhân vẫn đóng vai trò trong quyết định phân bổ ngân sách, với các tỉnh có nhân vật quan trọng thường nhận được ưu ái hơn. Đáng chú ý, tỷ lệ hộ nghèo và số lượng người có ảnh hưởng chính trị không cho thấy tác động có ý nghĩa thống kê trong mô hình này.

So sánh với các nghiên cứu tương tự ở Trung Quốc, kết quả cho thấy nhiều điểm tương đồng về các yếu tố tác động. Tuy nhiên, sự khác biệt then chốt nằm ở trọng tâm ưu tiên trong chính sách phân bổ. Trong khi chính quyền trung ương Trung Quốc có xu hướng ưu tiên tính hiệu quả, ban thưởng cho các địa phương đạt thành tích tốt trong phát triển kinh tế và thu ngân sách nhằm tạo động lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng, thì Việt Nam, đặc biệt trước khủng hoảng, lại thiên về đảm bảo công bằng cho các địa phương nghèo thông qua hỗ trợ ngân sách. Mặc dù sau khủng hoảng, Việt Nam đã có sự chuyển dịch sang mục tiêu hiệu quả hơn, nhưng chính sách phân bổ vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ tạo ra sự ỷ lại ở các địa phương, làm giảm tính năng động và hiệu quả trong phát triển kinh tế. Từ đó, tác giả đề xuất hai khuyến nghị chính sách quan trọng: Một là, cần minh bạch hóa hoàn toàn các tiêu chí và yêu cầu của việc hỗ trợ ngân sách có mục tiêu, đưa ra các quy định rõ ràng, dễ nắm bắt, đồng thời tăng cường giám sát của Quốc hội và yêu cầu trách nhiệm giải trình cao từ các cơ quan ra quyết định để hạn chế tối đa ảnh hưởng chính trị. Hai là, chính sách chuyển giao ngân sách có mục tiêu cần được thiết kế kết hợp cả điều kiện đầu vào (như hố cách tài khóa) và điều kiện đầu ra (như yêu cầu giảm hố cách tài khóa trong các năm tiếp theo), nhằm thúc đẩy các địa phương sử dụng nguồn lực hiệu quả, giảm sự phụ thuộc và tự lực phát triển kinh tế bền vững.

Phân Tích Các Yếu Tố Tác Động Đến Phân Bổ Ngân Sách Có Mục Tiêu Của Chính Quyền Trung Ương, Từ Đó Rút Ra Các Bài Học Kinh Nghiệm Cho Việt Nam
Phân Tích Các Yếu Tố Tác Động Đến Phân Bổ Ngân Sách Có Mục Tiêu Của Chính Quyền Trung Ương, Từ Đó Rút Ra Các Bài Học Kinh Nghiệm Cho Việt Nam