Khuyến mãi đặc biệt
  • Giảm 10% phí tải tài liệu khi like và share website
  • Tặng 1 bộ slide thuyết trình khi tải tài liệu
  • Giảm 5% dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của Luận Văn A-Z
  • Giảm 2% dịch vụ viết thuê luận án tiến sĩ của Luận Văn A-Z

Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Ngành Dệt May Tỉnh Thừa Thiên Huế

50.000 VNĐ

Luận văn phân tích năng lực cạnh tranh của ngành dệt may tại Thừa Thiên Huế, một ngành chủ lực đóng góp lớn vào kinh tế và xã hội tỉnh. Mặc dù có mức độ tập trung sản xuất cao, tiền đề cho sự phát triển cụm ngành còn chưa vững chắc. Các yếu tố như cơ sở hạ tầng, thể chế, tương tác doanh nghiệp, và năng lực sản xuất còn hạn chế. Tác giả đưa ra hai hướng khuyến nghị chính sách: hoặc không can thiệp nếu rủi ro cao và có ngành ưu thế khác, hoặc tập trung phát triển cụm ngành thông qua cải cách thể chế, nâng cấp hạ tầng, tập trung vào may và sợi, thúc đẩy liên kết và nâng cao năng lực sản xuất cho doanh nghiệp.

1. Thông tin Luận văn thạc sĩ

  • Tên Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may tỉnh Thừa Thiên Huế
  • Tác giả: Võ Phan Nhật Phương
  • Số trang: 81
  • Năm: 2017
  • Nơi xuất bản: Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
  • Chuyên ngành học: Chính sách công
  • Từ khoá: Năng lực cạnh tranh, ngành dệt may, cụm ngành, Thừa Thiên Huế, chính sách công, mô hình kim cương Porter, chỉ số LQ.

2. Nội dung chính

Ngành dệt may giữ vai trò chiến lược, là trụ cột quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế, không chỉ là ngành xuất khẩu chủ lực mà còn góp phần đáng kể vào tạo việc làm, giảm nghèo và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Năm 2014, ngành dệt may chiếm tới 16,65% tổng giá trị sản xuất và 29,25% tổng lực lượng lao động của tỉnh, vượt xa ngành du lịch vốn được xem là thế mạnh. Trước tầm quan trọng này, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã phê duyệt “Đề án quy hoạch ngành dệt may tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020 định hướng đến năm 2030” với mục tiêu hình thành và phát triển cụm ngành dệt may hoàn chỉnh, hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm dệt may của khu vực Miền Trung – Tây Nguyên, tập trung vào sản phẩm có giá trị gia tăng cao và công nghiệp thời trang. Tuy nhiên, luận văn nhấn mạnh rằng việc can thiệp chính sách để phát triển cụm ngành cần dựa trên những tiền đề vững chắc để tránh thất bại, đặc biệt trong bối cảnh nguồn lực hạn chế. Dù tỉnh Thừa Thiên Huế có mức độ quy tụ sản xuất của ngành dệt may cao vượt trội trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, cho thấy tiềm năng về mặt địa lý, nhưng nền tảng phát triển của cụm ngành còn rất yếu kém và chưa đủ vững chắc. Cụ thể, các yếu tố cấu thành cụm ngành vẫn kém phát triển hoặc thậm chí chưa tồn tại, sức hấp dẫn đầu tư thấp do thể chế yếu kém và hạ tầng chưa đồng bộ, sự tương tác giữa các doanh nghiệp còn rời rạc, và vai trò của chính quyền cùng các hiệp hội chưa được phát huy hiệu quả. Hơn nữa, việc các doanh nghiệp chủ yếu sản xuất theo phương thức gia công không tạo ra đủ cầu cho các ngành công nghiệp phụ trợ, khiến cho lộ trình phát triển cụm ngành đứng trước nhiều rủi ro nếu không có những điều chỉnh chính sách hợp lý và bài bản.

Phân tích năng lực cạnh tranh của cụm ngành dệt may Thừa Thiên Huế thông qua mô hình kim cương của Porter và chỉ số LQ đã làm rõ hơn những điểm yếu nền tảng. Về điều kiện nhân tố đầu vào, tỉnh có lợi thế về nguồn lao động phổ thông dồi dào, ổn định, chi phí thấp và quỹ đất công nghiệp rộng lớn với giá thuê rẻ, cùng với vị trí địa lý chiến lược. Tuy nhiên, khí hậu khắc nghiệt và hạ tầng giao thông (đặc biệt là cảng Chân Mây) chưa được khai thác hiệu quả, hạ tầng các khu công nghiệp còn sơ sài (thiếu hệ thống xử lý nước thải, xe buýt), chất lượng lao động qua đào tạo thấp, thiếu hụt nhân lực kỹ thuật cao và hệ thống đào tạo ngành dệt may còn yếu kém về cả chất và lượng. Về tài nguyên vốn, tỉnh có cơ hội thu hút đầu tư do xu hướng dịch chuyển sản xuất từ Trung Quốc và hội nhập kinh tế quốc tế, nhưng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ còn khó khăn, và hạ tầng kỹ thuật của doanh nghiệp trong nước vẫn còn lạc hậu. Môi trường chính sách và cạnh tranh cũng bộc lộ nhiều hạn chế; chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Thừa Thiên Huế xếp hạng thấp (23/63) so với các tỉnh lân cận, với những điểm yếu rõ rệt về chi phí gia nhập thị trường, chi phí thời gian, tính minh bạch và chi phí không chính thức. Sự thiếu nhất quán trong thực thi các cam kết ưu đãi đầu tư làm giảm niềm tin doanh nghiệp. Các doanh nghiệp dệt may trong tỉnh chủ yếu hoạt động theo phương thức CMT (gia công) với giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc vào các doanh nghiệp FDI lớn, nhưng những doanh nghiệp này có mức độ “bám rễ” thấp, dễ dàng dịch chuyển khi các lợi thế ban đầu mất đi. Hơn nữa, năng suất lao động của Việt Nam nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng còn thấp so với các nước ASEAN, và sự tương tác, liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành còn yếu, thiếu cạnh tranh lành mạnh để thúc đẩy đổi mới.

Về điều kiện cầu, sản phẩm dệt may của Thừa Thiên Huế chủ yếu phục vụ thị trường xuất khẩu (Mỹ, Nhật, Hàn Quốc), với 100% sản phẩm may và 75-85% sản phẩm sợi được xuất khẩu. Thị trường nội địa chưa được khai thác hiệu quả và đối mặt với thách thức từ hàng nhập lậu và giảm thuế. Thị trường xuất khẩu tuy tiềm năng nhưng ngày càng đòi hỏi các tiêu chuẩn cao về xã hội, môi trường và quy tắc xuất xứ, điều mà nhiều doanh nghiệp Việt Nam, bao gồm cả ở Thừa Thiên Huế, chưa đáp ứng được do phụ thuộc lớn vào nguyên phụ liệu nhập khẩu. Đối với các ngành hỗ trợ và liên quan, tình hình càng kém khả quan. Ngành logistics của tỉnh rất yếu; các doanh nghiệp dệt may không sử dụng cảng Chân Mây mà phải vận chuyển hàng hóa qua Đà Nẵng hoặc TP. Hồ Chí Minh do quy mô nhỏ và dịch vụ kém chuyên nghiệp. Công nghiệp phụ trợ gần như chưa tồn tại, với chỉ một vài doanh nghiệp nhỏ lẻ sản xuất nguyên phụ liệu, trong khi ngành dệt may địa phương phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguyên liệu nhập khẩu (bông, xơ, vải từ Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Hàn Quốc…). Mối liên kết giữa ngành sợi và ngành may trong tỉnh cũng rất yếu; ví dụ, Công ty Dệt May Huế sản xuất sợi nhưng lại xuất khẩu toàn bộ và phải nhập khẩu sợi để phục vụ sản xuất vải của mình. Cuối cùng, các thể chế hỗ trợ như hiệp hội ngành nghề chưa phát huy hiệu quả, và mức độ hỗ trợ của chính quyền địa phương về đào tạo, vốn, thông tin, thủ tục xuất khẩu, xúc tiến thương mại đều được doanh nghiệp đánh giá thấp.

Từ những phân tích trên, luận văn kết luận rằng dù Thừa Thiên Huế có mức độ quy tụ ngành dệt may cao nhất khu vực, nền tảng để phát triển một cụm ngành vững chắc vẫn còn rất yếu kém. Các thành phần cấu tạo nên cụm ngành còn kém phát triển và thiếu sự tương tác, trong khi thể chế và cơ sở hạ tầng yếu kém kìm hãm khả năng thu hút đầu tư. Tính chất “footloose” (dễ dịch chuyển) của ngành dệt may càng làm tăng rủi ro cho tỉnh, bởi nếu không củng cố được nền tảng cụm ngành kịp thời, Thừa Thiên Huế có thể mất đi những lợi thế về lao động và đất đai hiện có do chu kỳ dịch chuyển của ngành khá ngắn (khoảng 10 năm). Để giải quyết vấn đề này, luận văn đưa ra hai hướng khuyến nghị chính sách. Hướng thứ nhất, nếu tỉnh có mức độ chấp nhận rủi ro thấp và nhận thấy có các ngành khác có ưu thế hơn, chính quyền nên cân nhắc không đầu tư mạnh vào phát triển cụm ngành dệt may mà dành nguồn lực cho các ngành có lợi thế. Hướng thứ hai, nếu tỉnh vẫn quyết tâm phát triển cụm ngành dệt may như một ngành chủ lực, cần chấp nhận rủi ro và thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Một là, cải cách thể chế, nâng cấp hạ tầng cơ sở và tạo môi trường dân sinh thuận lợi để tăng sức hấp dẫn đầu tư và duy trì lợi thế về nhân công. Hai là, thu hẹp mục tiêu quy hoạch, tập trung vào hai ngành mũi nhọn hiện có là may và sợi, học hỏi kinh nghiệm từ Hàn Quốc để thu hút nhà đầu tư chiến lược và hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ba là, thúc đẩy sự tương tác giữa các doanh nghiệp thông qua việc thành lập các hiệp hội chuyên ngành, hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin thị trường và kiến thức sản xuất kinh doanh. Bốn là, từng bước nâng cao phương thức sản xuất của doanh nghiệp bằng cách đào tạo nhân lực trong các khâu thiết kế, công nghệ may và hỗ trợ xúc tiến thương mại để tiếp cận thị trường thế giới. Năm là, tạo lợi thế quy mô cho ngành dệt may thông qua liên kết doanh nghiệp, tận dụng sức mạnh của nhà đầu tư chiến lược và hiệu quả của hợp tác sản xuất để tạo ra nhu cầu cho các ngành phụ trợ phát triển.

Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Ngành Dệt May Tỉnh Thừa Thiên Huế
Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Ngành Dệt May Tỉnh Thừa Thiên Huế