1. Thông tin Luận văn thạc sĩ
- Tên Luận văn: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI DÒNG VỐN VÀO FDI TẠI CÁC NƯỚC NỀN KINH TẾ ĐANG PHÁT TRIỂN THU NHẬP TRUNG BÌNH
- Tác giả: VÕ MINH THIỆN
- Số trang: 72
- Năm: 2017
- Nơi xuất bản: Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành học: Tài chính công
- Từ khoá: FDI, Đầu tư trực tiếp nước ngoài, Nước đang phát triển thu nhập trung bình, Yếu tố tác động, Kinh tế vĩ mô, Chất lượng thể chế
2. Nội dung chính
Luận văn “Các yếu tố tác động tới dòng vốn vào FDI tại các nước nền kinh tế đang phát triển thu nhập trung bình” của Võ Minh Thiện tập trung nghiên cứu vai trò quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) như một động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển có tỷ lệ tiết kiệm nội địa thấp hơn nhu cầu đầu tư. Mở đầu, luận văn phân tích thực trạng dòng vốn FDI trên toàn cầu, chỉ ra rằng mặc dù FDI đã tăng trưởng mạnh mẽ, các nước đang phát triển thường nhận được tỷ trọng thấp hơn so với các nước phát triển. Điều này đặt ra vấn đề nghiên cứu về các yếu tố quyết định khả năng thu hút FDI ở nhóm quốc gia này. Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu được xây dựng dựa trên các học thuyết về thương mại quốc tế (lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh, Heckscher-Ohlin) để giải thích sự chuyển dịch từ thương mại sang đầu tư. Đặc biệt, luận văn đi sâu vào các lý thuyết giải thích FDI như hạn chế của xuất khẩu (chi phí vận chuyển, rào cản thương mại), lý thuyết chu kỳ sản phẩm của Vernon, lý thuyết quốc tế hóa của Hymer giải thích tại sao công ty chọn FDI thay vì nhượng quyền, và mô hình chiết trung OLI (Ownership, Location, Internalization) của Dunning. Những lý thuyết này cung cấp nền tảng vững chắc để xác định các động cơ chính của nhà đầu tư khi thực hiện FDI, bao gồm tìm kiếm thị trường, tìm kiếm tài nguyên, tìm kiếm hiệu quả và tìm kiếm tài sản chiến lược, từ đó định hình các yếu tố tác động đến dòng vốn này.
Để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp định lượng thông qua hồi quy dữ liệu bảng trên mẫu gồm 60 quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình trong giai đoạn 2005-2015. Các phương pháp hồi quy được áp dụng bao gồm OLS (Pooled Ordinary Least Squares), FEM (Fixed Effects Model), REM (Random Effects Model) và FGLS (Feasible Generalized Least Squares) để khắc phục các vấn đề về phương sai sai số thay đổi và tự tương quan. Biến phụ thuộc là tỷ lệ dòng vốn FDI ròng trên GDP. Các biến độc lập được lựa chọn dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đó, bao gồm: quy mô thị trường (đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người), độ mở thương mại (tỷ trọng xuất nhập khẩu trên GDP), thuế suất (tỷ lệ thuế suất tổng), sự bất ổn kinh tế (tỷ lệ lạm phát), cơ sở hạ tầng (số thuê bao điện thoại cố định trên 100 dân), chất lượng thể chế (điểm trung bình của 6 chỉ số Quản trị Toàn cầu – WGIs của World Bank) và chi phí sản xuất (tỷ lệ thất nghiệp). Luận văn cũng tiến hành phân tích so sánh giữa hai nhóm nhỏ: 29 quốc gia thu nhập trung bình thấp và 31 quốc gia thu nhập trung bình cao, nhằm làm rõ sự khác biệt trong tác động của các yếu tố đối với từng nhóm.
Kết quả nghiên cứu tổng thể trên mẫu 60 quốc gia cho thấy một số yếu tố có tác động tích cực và ý nghĩa thống kê đến FDI, bao gồm quy mô thị trường (tăng trưởng GDP bình quân đầu người), độ mở thương mại và cơ sở hạ tầng. Cụ thể, khi tăng trưởng GDP bình quân đầu người tăng 1%, FDI tăng khoảng 0.091%; độ mở thương mại tăng 1%, FDI tăng 0.034%; và chỉ số cơ sở hạ tầng tăng 1 đơn vị, FDI tăng 0.066%. Thuế suất lại có tác động tiêu cực, khi thuế tăng 1% thì FDI giảm 0.018%. Một phát hiện đáng chú ý là tỷ lệ thất nghiệp có tác động dương và ý nghĩa thống kê đến FDI, điều này trái với giả thuyết ban đầu và nhiều nghiên cứu trước đây. Điều này được giải thích là do các công ty đa quốc gia đầu tư vào các nước đang phát triển thường tìm kiếm nguồn lao động dồi dào, gợi ý rằng tỷ lệ thất nghiệp cao có thể là một yếu tố hấp dẫn đối với các dự án đòi hỏi nhiều lao động. Ngược lại, lạm phát và chất lượng thể chế không cho thấy tác động có ý nghĩa thống kê trên mẫu chung này.
Khi phân tích so sánh giữa nhóm các nước thu nhập trung bình thấp và thu nhập trung bình cao, luận văn đã chỉ ra những điểm khác biệt quan trọng. Đối với nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp, chỉ có quy mô thị trường, độ mở thương mại và thuế suất là có tác động ý nghĩa đến FDI. Điều này cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm chủ yếu đến tiềm năng thị trường, khả năng hội nhập quốc tế và gánh nặng thuế ở các nền kinh tế này. Tuy nhiên, đối với nhóm các quốc gia thu nhập trung bình cao, ngoài các yếu tố kể trên, cơ sở hạ tầng và đặc biệt là chất lượng thể chế lại phát huy tác dụng tích cực và có ý nghĩa thống kê đối với dòng vốn FDI. Khi chỉ số chất lượng thể chế tăng 0.1 đơn vị, tỷ lệ FDI trên GDP ở nhóm này tăng 0.1424%. Sự khác biệt này cho thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của chất lượng thể chế trong việc thu hút FDI khi một quốc gia đạt đến trình độ phát triển cao hơn. Từ những kết quả này, luận văn đề xuất các hàm ý chính sách quan trọng cho các nước đang phát triển, bao gồm việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng cường liên kết thương mại quốc tế, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, và đặc biệt là cải thiện chất lượng thể chế, kiểm soát tham nhũng, đảm bảo sự ổn định chính trị và thực thi pháp luật một cách hiệu quả, tạo môi trường đầu tư minh bạch và thuận lợi hơn. Đối với Việt Nam, luận văn gợi ý cần tiếp tục phát huy những lợi thế hiện có và khắc phục các điểm yếu để tối ưu hóa khả năng thu hút FDI.

