1. Thông tin Luận văn thạc sĩ
- Tên Luận văn: Các nhân tố tác động đến hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
- Tác giả: Ngô Phi Mỹ Anh
- Số trang: 117
- Năm: 2017
- Nơi xuất bản: Thành phố Hồ Chí Minh (Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh)
- Chuyên ngành học: Kế toán
- Từ khoá: Nhân tố tác động, Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán, Cơ quan thuế, Kế toán công, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Nội dung chính
Luận văn “Các nhân tố tác động đến hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Ngô Phi Mỹ Anh được thực hiện trong bối cảnh kế toán tại các cơ quan thuế Việt Nam đang gặp nhiều hạn chế do tuân thủ chế độ kế toán hành chính sự nghiệp nhưng chưa có chế độ riêng cho ngành, dẫn đến khó khăn trong ghi nhận thông tin, lập và trình bày báo cáo tài chính (BCTC) chưa phản ánh đúng bức tranh hoạt động và khó kiểm soát hiệu quả. Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh là một đơn vị lớn, có vai trò quan trọng trong thu ngân sách và có hoạt động chi ngân sách đáng kể, do đó việc hoàn thiện công tác kế toán là cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính công và đáp ứng xu thế đổi mới hệ thống kế toán khu vực công tại Việt Nam. Mục tiêu chính của luận văn là xác định các nhân tố tác động đến hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, từ đó đánh giá thực trạng, ưu nhược điểm và đề xuất các giải pháp, kiến nghị phù hợp. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính (tổng hợp lý thuyết, khảo sát chuyên gia) và định lượng (khảo sát bảng hỏi 149 đối tượng và phân tích bằng phần mềm SPSS với các kỹ thuật Cronbach’s Alpha, EFA, hồi quy). Luận văn sử dụng hai lý thuyết nền tảng là lý thuyết đại diện và lý thuyết bất cân xứng thông tin để phân tích trách nhiệm cung cấp thông tin kế toán trung thực, minh bạch của cơ quan thuế và làm cơ sở đánh giá các vấn đề về thông tin tài chính hiện có.
Cơ sở lý thuyết và các công trình nghiên cứu trước đã chỉ ra nhiều nhân tố ảnh hưởng đến cải cách và hoàn thiện kế toán công. Trên thế giới, các học giả như Chan (2005) đã nhấn mạnh vai trò của IPSAS trong cải cách hệ thống kế toán chính phủ và các rào cản khi áp dụng. Rossi et al. (2015) thảo luận về các thách thức mới trong kế toán công. Đặc biệt, các nghiên cứu của Lüder (1992), Ouda Hassan (2004), Cristina et al. (2013) đã xây dựng các mô hình nhân tố tác động đến đổi mới kế toán công, bao gồm áp lực tài chính, văn hóa chính trị, trình độ nhân viên, hệ thống pháp lý, công nghệ thông tin và rào cản thực hiện. Wan et al. (2017) tập trung vào tác động của hệ thống thông tin kế toán đến hiệu quả công việc. Tại Việt Nam, Nguyễn Đăng Huy (2008) và Ngô Thanh Hoàng (2014) đã chỉ ra những điểm yếu của hệ thống kế toán công như tính phức tạp, thiếu chuẩn mực, và cơ sở kế toán tiền mặt còn hạn chế. Phạm Quang Huy (2014) và Nguyễn Thị Thu Hiền (2015) đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến cải cách kế toán khu vực công, bao gồm môi trường xã hội, chính trị, văn hóa, kinh tế, pháp lý, trình độ nhân viên và công nghệ thông tin. Kế thừa các nghiên cứu này, luận văn của Ngô Phi Mỹ Anh đã xác định 7 nhân tố ban đầu có thể tác động đến hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại cơ quan thuế TP.HCM: Trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán, Hệ thống công nghệ thông tin phục vụ công tác kế toán, Hệ thống các văn bản pháp lý về kế toán, Cơ sở kế toán đang sử dụng, Văn hóa nơi làm việc, Cơ chế quản lý tài chính, và Công tác thanh tra, kiểm tra.
Kết quả nghiên cứu định lượng từ 149 phiếu khảo sát hợp lệ cho thấy các thang đo đều có độ tin cậy chấp nhận được (Cronbach’s Alpha > 0.6). Tuy nhiên, biến “Hệ thống sao lưu dữ liệu kế toán trên điện toán đám mây giúp dữ liệu được an toàn” (CNTT4) đã bị loại bỏ do hệ số tương quan biến thấp, phản ánh thực tế rằng loại hình lưu trữ này chưa phổ biến và còn nhiều e ngại tại các cơ quan thuế ở Việt Nam. Sau khi phân tích nhân tố khám phá (EFA), 7 nhân tố độc lập được giữ lại với KMO=0.78 và tổng phương sai trích là 73.266%. Phân tích hồi quy đa biến đã chỉ ra 6 trong số 7 nhân tố có ý nghĩa thống kê và tác động dương đến hoàn thiện tổ chức công tác kế toán. Nhân tố “Cơ sở kế toán đang sử dụng” không có ý nghĩa trong mô hình, có thể do sự thiếu hiểu biết hoặc không quan tâm của nhiều nhân viên kế toán về vấn đề này, thay vào đó họ dựa vào các hướng dẫn cụ thể. Mô hình hồi quy có R-squared là 0.681, cho thấy 68.1% sự thay đổi trong việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán được giải thích bởi các nhân tố còn lại. Thứ tự mức độ tác động từ cao xuống thấp của các nhân tố đã được xác định: Công tác thanh tra, kiểm tra; Hệ thống các văn bản pháp lý về kế toán; Hệ thống công nghệ thông tin phục vụ công tác kế toán; Trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán; Cơ chế quản lý tài chính; và Văn hóa nơi làm việc.
Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các cơ quan thuế trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh cho thấy nhiều ưu điểm như việc tuân thủ các quy định hiện hành về chứng từ, sổ sách, hệ thống tài khoản; mô hình kế toán phân tán phù hợp; cơ chế quản lý tài chính tuân theo Luật Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, cũng tồn tại nhiều nhược điểm đáng kể. Hệ thống BCTC hiện nay quá nhiều biểu mẫu, chỉ tập trung kiểm soát chi mà chưa phản ánh toàn diện tình hình tài chính (thiếu bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ) và chưa công khai cho công chúng. Các văn bản pháp lý về kế toán còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu chế độ kế toán riêng cho ngành và chưa có chuẩn mực kế toán công, dẫn đến sự không thống nhất trong hạch toán giữa các đơn vị. Ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế, phần mềm IMAS cũ kỹ, thường xuyên lỗi, thiếu tính liên kết dữ liệu. Công tác kiểm tra nội bộ về tài chính chưa được chú trọng, nhân sự kế toán thiếu chuyên môn sâu do chính sách tuyển dụng và luân chuyển cán bộ. Cơ chế tài chính còn bị ràng buộc, chưa thực sự tự chủ hoàn toàn, và quy trình kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước vẫn còn lỗ hổng. Từ những phân tích này, luận văn đề xuất các hàm ý chính sách cho Quốc hội (hoàn thiện hành lang pháp lý, quy định về Kiểm toán Nhà nước), Bộ Tài chính (sửa đổi quy chế công khai tài chính, ban hành chế độ kế toán/chuẩn mực kế toán công mới, gia tăng tự chủ tài chính, xây dựng hệ thống BCTC đầy đủ), Tổng cục Thuế (ban hành quy định kiểm soát nội bộ tài chính, xây dựng hệ thống CNTT đồng bộ, xem xét chính sách nhân sự), và các cơ quan thuế tại TP. Hồ Chí Minh (tăng cường thanh tra/kiểm tra nội bộ, nâng cao trình độ nhân viên, ứng dụng CNTT, xây dựng văn hóa làm việc cầu tiến).

