Khuyến mãi đặc biệt
  • Giảm 10% phí tải tài liệu khi like và share website
  • Tặng 1 bộ slide thuyết trình khi tải tài liệu
  • Giảm 5% dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ của Luận Văn A-Z
  • Giảm 2% dịch vụ viết thuê luận án tiến sĩ của Luận Văn A-Z

Phát Triển Du Lịch Đồng Bằng Sông Cửu Long Trong Hội Nhập Quốc Tế

50.000 VNĐ

Luận án nghiên cứu phát triển du lịch Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tác giả xây dựng mô hình các nhân tố tác động, phân tích thực trạng phát triển du lịch ĐBSCL, bao gồm sản phẩm, hạ tầng, nguồn nhân lực, xúc tiến quảng bá và vai trò quản lý nhà nước. Nghiên cứu chỉ ra tiềm năng lớn nhưng cũng tồn tại nhiều hạn chế như thiếu liên kết, sản phẩm trùng lặp, hạ tầng yếu kém và nhân lực chưa đáp ứng. Luận án đề xuất các chính sách và giải pháp khoa học, khả thi nhằm nâng cao nhận thức, tăng cường liên kết, phát triển sản phẩm đặc thù, đào tạo nguồn nhân lực và huy động đầu tư để du lịch ĐBSCL phát triển bền vững, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

1. Thông tin Luận văn thạc sĩ

  • Tên Luận văn: PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
  • Tác giả: NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG
  • Số trang: 209
  • Năm: 2017
  • Nơi xuất bản: TP HỒ CHÍ MINH
  • Chuyên ngành học: Kinh tế chính trị
  • Từ khoá: Du lịch, Phát triển du lịch, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Hội nhập quốc tế, Chính sách du lịch, Sản phẩm du lịch, Quản lý nhà nước về du lịch.

2. Nội dung chính

Luận văn “Phát triển du lịch Đồng bằng sông Cửu Long trong hội nhập quốc tế” của Nguyễn Hoàng Phương tập trung nghiên cứu sự phát triển của ngành du lịch tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong bối cảnh hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Tác giả khẳng định tính cấp thiết của đề tài khi ngành du lịch Việt Nam đang vươn lên trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội. ĐBSCL, với tiềm năng dồi dào về thiên nhiên (hệ thống sông ngòi, khí hậu ôn hòa, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đất ngập nước) và văn hóa (văn hóa sông nước miệt vườn, các lễ hội truyền thống, di tích lịch sử), có lợi thế lớn để phát triển du lịch. Tuy nhiên, ngành du lịch vùng vẫn còn nhiều bất cập như sự trùng lắp trong sản phẩm, quảng bá kém hiệu quả, cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng và hạn chế trong quản lý nhà nước. Mục tiêu nghiên cứu là xây dựng khung phân tích, đánh giá thực trạng các nhân tố tác động đến du lịch ĐBSCL trong hội nhập quốc tế, từ đó đề xuất các chính sách và giải pháp khoa học, khả thi nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, thúc đẩy du lịch phát triển bền vững. Cơ sở lý luận của luận văn được xây dựng dựa trên quan điểm của kinh tế chính trị Mác – Lênin về sự ra đời và phát triển của ngành dịch vụ du lịch, cùng với các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch trong hội nhập quốc tế, nhấn mạnh vai trò kinh tế – xã hội quan trọng của du lịch.

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hóa khoa học và phương pháp nghiên cứu liên ngành. Bên cạnh đó, các phương pháp cụ thể như nghiên cứu tại bàn, thống kê, mô tả, phân tích – tổng hợp, so sánh – đối chiếu, và đặc biệt là khảo sát, điều tra hiện trường (721 mẫu du khách) đã được sử dụng để đánh giá mức độ hài lòng của du khách và xác định các nhân tố tác động. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính bội đã xây dựng được mô hình gồm 7 nhân tố chính ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách, bao gồm: môi trường du lịch, loại hình du lịch, tài nguyên du lịch tự nhiên, phong tục tập quán địa phương, sự thân thiện của người dân, giá cả và an toàn, và nghệ thuật ẩm thực. Trên cơ sở này, luận văn phân tích thực trạng du lịch ĐBSCL giai đoạn 2000-2015, chỉ ra những thành tựu đáng ghi nhận như lượng khách quốc tế và nội địa tăng đều (khách quốc tế tăng trung bình 8,5%/năm, nội địa 12%/năm giai đoạn 2006-2015), tổng thu từ khách du lịch tăng trung bình 23,6%/năm. Cơ sở hạ tầng du lịch từng bước được cải thiện, công tác đào tạo nguồn nhân lực và xúc tiến quảng bá đã có những kết quả nhất định, đóng góp vào phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, và ổn định xã hội. Tuy nhiên, các hạn chế còn rất lớn: sản phẩm du lịch trùng lắp, thiếu đặc trưng, công tác quảng bá chưa chuyên nghiệp, hạ tầng yếu kém, nguồn nhân lực vừa thiếu vừa yếu về số lượng, chất lượng và cơ cấu, môi trường du lịch suy thoái do ô nhiễm và biến đổi khí hậu, an ninh – an toàn chưa thực sự đảm bảo, và quản lý nhà nước còn bất cập, thiếu sự liên kết đồng bộ giữa các địa phương.

Luận văn cũng phân tích sâu sắc tác động của hội nhập quốc tế đối với du lịch ĐBSCL, mở ra nhiều cơ hội lớn như tiếp cận thị trường khách quốc tế rộng lớn, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chuyển giao công nghệ quản lý tiên tiến, và nâng cao năng lực cạnh tranh. Các hiệp định thương mại, sự tham gia vào các tổ chức quốc tế như WTO, GMS, ASEAN, cùng các chính sách miễn thị thực của Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch vùng. Tuy nhiên, hội nhập cũng mang đến không ít thách thức, đặc biệt là cạnh tranh gay gắt với các điểm đến trong khu vực, nguy cơ mai một bản sắc văn hóa và tác động tiêu cực đến môi trường nếu không có quản lý chặt chẽ. Từ đó, tác giả đề xuất định hướng phát triển du lịch ĐBSCL trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển bền vững, chuyên nghiệp, cân bằng giữa du lịch nội địa và quốc tế, gắn liền với bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường. Mục tiêu cụ thể đặt ra đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 bao gồm tăng trưởng đáng kể về lượng khách quốc tế (4 triệu lượt năm 2020, 7 triệu lượt năm 2030) và nội địa, số lượng cơ sở lưu trú, nguồn nhân lực du lịch, tổng thu nhập và giá trị GDP từ du lịch, cùng với nhu cầu đầu tư lớn. Về định hướng không gian, vùng được chia thành các cụm du lịch chuyên biệt (Cần Thơ – An Giang – Kiên Giang – Hậu Giang cho thương mại/lễ hội/sông nước; Cà Mau – Bạc Liêu – Sóc Trăng cho rừng ngập mặn/văn hóa Khmer; Tiền Giang – Bến Tre – Vĩnh Long – Trà Vinh cho di tích/miệt vườn/làng nghề; Long An – Đồng Tháp cho sinh thái Tràm Chim) và các tuyến du lịch đường bộ, đường hàng không, đường sông, đường biển, trong đó Phú Quốc được định hướng thành đặc khu kinh tế du lịch nghỉ dưỡng cao cấp.

Để hiện thực hóa các định hướng và mục tiêu trên, luận văn đề xuất một hệ thống chính sách và giải pháp đồng bộ. Về phát triển sản phẩm du lịch, cần đa dạng hóa các sản phẩm đặc thù “xanh” như du lịch sinh thái miệt vườn, văn hóa cội nguồn, biển đảo, MICE, tránh trùng lặp giữa các địa phương và nâng cao chất lượng dịch vụ. Về phát triển thị trường và xúc tiến quảng bá, tập trung vào các thị trường Đông Bắc Á, Bắc Mỹ, Tây Âu, ASEAN, đẩy mạnh e-marketing, xây dựng thương hiệu “Du lịch Mekong” thống nhất, và tăng cường nhận thức cộng đồng. Về đầu tư, cần quy hoạch đồng bộ hạ tầng giao thông (bộ, thủy, hàng không), điện, nước, viễn thông, đưa ra cơ chế ưu đãi hấp dẫn cho nhà đầu tư (FDI, ODA, tư nhân), ưu tiên các dự án trọng điểm, du lịch sinh thái và bảo vệ môi trường, tránh đầu tư dàn trải. Về nguồn nhân lực, cần đào tạo đủ số lượng, đảm bảo chất lượng và cơ cấu, đẩy mạnh xã hội hóa đào tạo, mời chuyên gia nước ngoài, xây dựng chính sách đãi ngộ thu hút nhân tài, và chuẩn hóa nghiệp vụ du lịch theo tiêu chuẩn khu vực, quốc tế. Về hội nhập quốc tế, cần đẩy mạnh liên kết với các tổ chức và quốc gia phát triển, thúc đẩy hợp tác tiểu vùng Mekong và liên kết với các vùng khác trong nước (đặc biệt là TP. Hồ Chí Minh). Về bảo vệ môi trường, ban hành chính sách đặc thù bảo tồn hệ sinh thái (Tràm Chim, Phú Quốc), xử phạt nghiêm các hành vi gây ô nhiễm, nâng cao ý thức cộng đồng về du lịch xanh, và xây dựng các công trình chống lũ, mặn, sạt lở. Về an ninh, an toàn, xây dựng lực lượng chuyên trách bảo vệ du khách, tuyên truyền văn hóa ứng xử, loại bỏ tệ nạn xã hội, và kết hợp phát triển du lịch với đảm bảo quốc phòng – an ninh tại các khu vực biên giới, biển đảo. Cuối cùng, về nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ, Bộ ngành và chính quyền địa phương, phát huy vai trò của Hiệp hội Du lịch ĐBSCL, sửa đổi luật pháp, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực cán bộ quản lý, áp dụng tiêu chuẩn ngành, phân cấp quản lý, và khuyến khích cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực du lịch, tất cả nhằm tạo môi trường thuận lợi và minh bạch, phát triển du lịch ĐBSCL đúng với tiềm năng và yêu cầu của hội nhập quốc tế.

Phát Triển Du Lịch Đồng Bằng Sông Cửu Long Trong Hội Nhập Quốc Tế
Phát Triển Du Lịch Đồng Bằng Sông Cửu Long Trong Hội Nhập Quốc Tế