1. Thông tin Luận văn thạc sĩ
- Tên Luận văn: Phân cấp ngân sách và cân đối thu chi địa phương: Trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh
- Tác giả: Phạm Thị Ánh Tuyết
- Số trang: 106
- Năm: 2017
- Nơi xuất bản: TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
- Chuyên ngành học: Quản lý công
- Từ khoá: Phân cấp ngân sách, cân đối thu chi, ngân sách địa phương, Thành phố Hồ Chí Minh, ngân sách Trung ương, cơ chế tài chính đặc thù, nguồn thu, nhiệm vụ chi, đầu tư phát triển.
2. Nội dung chính
Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) luôn giữ vị thế đầu tàu kinh tế – xã hội của cả nước, đóng góp đáng kể vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và thu ngân sách nhà nước (NSNN). Với GDP chiếm hơn 22% và thu ngân sách khoảng 30% tổng số của cả nước, TPHCM là địa phương tự đảm bảo cân đối ngân sách và nộp về ngân sách Trung ương (NSTƯ) tỷ lệ cao nhất. Tuy nhiên, luận văn chỉ ra rằng cơ chế phân cấp ngân sách hiện hành còn nhiều bất cập, chưa thực sự phù hợp với điều kiện phát triển đặc thù của Thành phố, làm suy giảm động lực và nguồn lực để TPHCM tiếp tục phát triển nhanh chóng. Các vấn đề nổi cộm bao gồm quyền tự chủ của Thành phố trong quyết định nguồn thu còn hạn chế, tỷ lệ phần trăm phân chia nguồn thu giữa Trung ương và Thành phố ngày càng giảm (từ 33% năm 2003 xuống còn 18% giai đoạn 2017-2020), phân cấp nhiệm vụ chi chưa phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và đặc thù của một siêu đô thị, cùng với sự chồng chéo giữa các cấp ngân sách và nhiều hạn chế trong phân cấp vay nợ đối với chính quyền địa phương. Điều này dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng giữa nguồn lực và nhu cầu, gây ra những “điểm nghẽn” trong phát triển hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng cạnh tranh của Thành phố, không tương xứng với tiềm năng và vai trò dẫn dắt của TPHCM đối với cả nước.
Luận văn đi sâu phân tích thực trạng phân cấp ngân sách, đặc biệt nhấn mạnh mô hình ngân sách “lồng ghép” của Việt Nam, vốn tạo ra sự phụ thuộc của ngân sách cấp dưới vào cấp trên và làm hạn chế tính độc lập của ngân sách địa phương. Đối với TPHCM, mô hình này đã làm phức tạp hóa quy trình ngân sách, khiến việc lập dự toán của Thành phố mang tính hình thức, không phản ánh đúng nhu cầu thực tiễn. Về nguồn thu, Thành phố bị hạn chế quyền tự chủ trong việc quyết định các khoản thu, phụ thuộc vào chính sách thuế và phí do Trung ương ban hành. Điều này khiến cơ cấu nguồn thu của TPHCM không bền vững, dễ bị ảnh hưởng bởi các biến động chính sách và tình hình kinh tế. Mặc dù các khoản thu từ đất có tính ổn định cao và quan trọng đối với đô thị, TPHCM vẫn gặp khó khăn trong việc khai thác bền vững do quy định hiện hành coi nhiều khoản thu này là không bền vững hoặc không thuộc về địa phương. Về chi ngân sách, việc phân bổ dự toán chi thường xuyên theo đầu dân hoặc các tiêu chí chung từ Trung ương không đáp ứng được yêu cầu đặc thù của một đô thị lớn với lượng dân nhập cư và vãng lai đông đảo, phải gánh vác nhiều nhiệm vụ công cộng cho cả khu vực. Hơn nữa, nhiều nhiệm vụ quản lý kinh tế – xã hội là của Trung ương nhưng Thành phố phải chi kinh phí hỗ trợ thực hiện, gây áp lực lên ngân sách địa phương mà không có sự phân định rõ ràng về trách nhiệm.
Những bất cập trong phân cấp ngân sách đã gây ra hậu quả đáng kể cho TPHCM. Mặc dù là địa phương có đóng góp thu NSNN lớn nhất cả nước, phần ngân sách Thành phố được hưởng theo phân cấp lại thấp hơn đáng kể so với Hà Nội, và tỷ lệ giữ lại này còn tiếp tục giảm. Nguồn bổ sung có mục tiêu từ NSTƯ cho TPHCM cũng có xu hướng giảm dần, trong khi nhu cầu đầu tư phát triển hạ tầng của Thành phố là rất lớn (bình quân 35.000 tỷ đồng/năm), nhưng nguồn vốn dành cho chi đầu tư phát triển chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu. Điều này buộc Thành phố phải nỗ lực huy động các nguồn lực khác, dẫn đến thực chi đầu tư phát triển luôn vượt dự toán được giao. Hạn mức vay nợ của Thành phố, mặc dù đã được nới lỏng qua các thời kỳ, nhưng Luật Ngân sách Nhà nước 2015 lại quy định mức dư nợ vay không vượt quá 60% số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp, điều này chưa phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và khả năng vay để đầu tư vào các dự án có khả năng hoàn vốn của Thành phố. Tình trạng này nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tốc độ tăng trưởng và phát triển bền vững của TPHCM, cũng như vai trò động lực của Thành phố đối với cả nước.
Để khắc phục những tồn tại trên và thúc đẩy TPHCM phát triển xứng tầm, luận văn đề xuất một số giải pháp toàn diện về cơ chế tài chính – ngân sách. Về phân cấp nguồn thu, kiến nghị Trung ương cấp lại một phần số thu từ các khoản thuế xuất nhập khẩu (dự kiến 8-12% trong 10 năm) để Thành phố bổ sung nguồn đầu tư hạ tầng giao thông và cảng biển, tạo kết nối liên vùng. Đồng thời, cho phép Thành phố nghiên cứu cơ chế phụ thu đối với một số ngành, lĩnh vực kinh doanh đặc thù, cũng như phân cấp quyền thu tiền sử dụng đất gắn với tài sản do Trung ương quản lý (với tỷ lệ Thành phố hưởng 50%). Cần xem xét tăng tỷ lệ phần trăm (%) để lại cho ngân sách Thành phố từ các khoản thu phân chia giữa Trung ương và địa phương, giữ ổn định tỷ lệ này trong 10 năm, và cho phép Thành phố khai thác các nguồn thu từ đất và tài sản gắn liền trên đất một cách bền vững hơn (ví dụ, thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản nên thuộc về địa phương 100%). Về phân cấp nhiệm vụ chi, Trung ương nên chỉ giao dự toán tổng thu và tổng chi, để Hội đồng nhân dân Thành phố tự quyết định phân bổ chi cho từng lĩnh vực phù hợp với thực tế địa phương, đồng thời ghi nhận các nội dung chi đặc thù của TPHCM trong dự toán ngân sách Trung ương. Ngoài ra, cần đẩy mạnh thu hút xã hội hóa đầu tư (PPP, đầu tư tư nhân, sự tham gia của người dân) vào hạ tầng cơ sở. Về hạn mức huy động vốn, cho phép Thành phố tính ngoài giới hạn vay nợ đối với các khoản vay đầu tư vào dự án có khả năng hoàn vốn và các khoản vay lại từ nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ. Cuối cùng, chấp thuận cho Thành phố quyết định mức trích Quỹ dự trữ tài chính từ kết dư ngân sách và được tạm ứng từ quỹ này để đầu tư cho các dự án hạ tầng quan trọng, cấp bách trong thời gian tối đa 36 tháng.

